Thứ Sáu, 18 tháng 1, 2008

Quan hệ giữa khủng hoảng - và chính sách bá quyền of Mỹ


19/5/2006
Nguyên nhân khủng hoảng tài chính 90-91 tại Mỹ?




Theo những lý luận kinh tế:
Đồng đô la đang ở vị trí cao hơn thực tế., nguyên nhân :
+ Các nước giữ giá đồng đô la (khuyến khích suất khẩu, dự trữ ngoại tệ, đảm bảo an ninh, định giá đồng tiền theo đồng đô la.)
+ Các công ty tài chính, các tập đoàn lớn đầu tư cho “bong bong công nghệ Mỹ”.
Khủng hoảng thừa.
Sự trỗi dậy của các nước Nhật, Đức thu hút nguồn đầu tư của Mỹ.
Theo những lý luận chính trị:
Mỹ bị đánh bật khỏi vị trí thống trị của mình, ảnh hưởng bị suy giảm nghiêm trọng về kinh tế lẫn chính trị sau chiến tranh lạnh.
Trước thời điểm đó, Mỹ đóng vai “chủ ngân hàng và cảnh sát Quốc Tế rất thành công. Nhưng sau chiến tranh lạnh tiềm lực kinh tế, tài chính suy giảm nghiêm trọng, Mỹ buộc phải giảm thiểu tác động về kinh tế và chính trị của mình tại nhiều khu vực.
Do tập trung nguồn lực tài chính (bội chi cho ngành công nghiệp chiến tranh), Mỹ đã đánh mất vj trí số một trong nhiều ngành kinh tế. Có thể nói cả Mỹ và Nga đều đã thua trong cuộc chiến tranh lạnh, còn Đức và Nhật là những người chiến thắng.
Các nhà đầu tư đã ý thức rõ điều này dẫn đến rút vốn khỏi thị trừờng Mỹ. Đó là nguyên nhân khủng hoảng tài chính tại Mỹ.
Chính sách kiềm chế của MỸ đối với Nhật và Đức : dựa trên lá bài “chống sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản thế giới” để lôi kéo các nước “nguy hiểm” vào cuộc chiến tranh lạnh, mưu đồ kiềm chế cả Nga và các nước này. Chính sách này đã hoàn toàn thất bại, chính Mỹ đã phải gánh chịu hậu quả nghiêm trọng.




16/6/2006
Phố WALL sụp đổ năm 1987

Chắc chắn không ít người dân vẫn còn nhớ cảm giác kinh hoàng trong thời kì “đại suy thoái” của nước Mỹ năm 1980.
Chúng ta sẽ cùng đề cập đến ảnh hưởng của chính sách bá quyền đến cuộc suy thoái này, thậm trí cả cuộc suy thoái năm 91. Nó là ngẫu nhiên, khách quan hay là hậu quả tất yếu của những chính sách, theo đuổi một tham vọng quá lớn và quá sức. Đó là sự kết quả của cuộc “khủng hoảng thừa” đơn thuần như người VN vẫn nghĩ hay là một cái gì đó nguy hại hơn, cho đến cả hôm nay.
Hiện trạng:
Nước Mỹ đang đứng trước 2 vấn đề nổi cộm: Thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại triền miên
Chi tiêu cho quân sự quá lớn (4% GDP), trong khi đó các khoản chi này lại được quản lý lỏng lẻo dẫn tới thất thoát lớn. Quân sự trở thành một ngành “béo bở” đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước Mỹ.
Nguyên nhân của điều này là do: chính sách bá quyền Mỹ đòi hỏi nước Mỹ phải tiếp tục đóng vai trò làm cảnh sát toàn cầu. Mỹ cần bảo đảm về quân sự cho phe đồng minh, đồng thời phải tạo một lợi thế đủ mạnh trước phe CSCN mà đứng đầu là Nga.
Điều này dẫn tới một hệ quả tất yếu là các ngành công nghiệp còn lại của Mỹ không được tập trung phát triển, lợi thế bị mất do bá quyền suy dảm lại bị các nước Đức, Tây Âu và Nhật Bản cạnh tranh gay gắt. Hàng hóa MỸ không thể đứng vững trên thị trường TG. Suất khẩu suy giảm trong khi nhập khẩu lại ra tăng do nhu cầu tiêu dùng và quân sự. Đôla bị chảy ra nước ngòai hoặc đầu tư cho quân sự quá nhiều, dẫn tới không chỉ thiếu đôla để đáp ứng vai trò “chủ nợ”, mà thậm trí còn thiếu cả tiền phục vụ cho phát triển nội địa.
Hệ quả tất yếu của điều này là 2 vấn đề đã nói ở trên : Thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại
2.Giải pháp:
Khả năng duy nhất có thể cứu vãn tình hình đó là làm cho ngành công nghiệp dân sự thu được lợi nhuận lớn hơn, thu hút đầu tư từ công nghiệp quốc phòng sang công nghiệp Dân sụ. Nhưng trước tình hình hiện tại làm được điều đó chẳng khác nào bắt nước Mỹ phải tập trung vào hiện đại hóa công nghiệp, lấy lại vị thế của mình về kinh tế, và điều đó sẽ khiến mỹ bỏ bê và không có nguồn lực đap ứng vai trò cảnh sát toàn cầu, khi mà chính sách ngoại giao quân sự vẫn cần rât nhiều những đồng đôla đó.
Tiến thoái lưỡng nan, nhưng vào đúng thời điểm này chính quyền MỸ đa có một giải pháp “suất chúng” : “một mũi tên trúng 2 con chim”, một chính sách có “ một không hai” trong lịch sử. Đó là cách làm cho các doanh nghiệp dân sự lãi lớn, đủ sức bù đắp cho những chi phí khổng lồ dành cho quân sự. Có thể nói, vào lúc này,Nền kinh tế Mỹ, giống như một quả bong tuyết đang tụt dốc, có khả năng sẽ được chặn lại và đưa trở lại đỉnh. Và thực tế phần nào đã chứng mình điều đó.
Chính quyền mỹ đã thực hiện một chính sách HY HỮU. Chính đã giúp đỡ, vào tạo điều kiện tốt nhất để các doanh nghiệp tạo lợi nhuận, tích lũy tư bản, đổi mới công nghệ, cải tổ hành chính, nâng cao khả năng cạnh tranh, nhưng không phải bằng cách cạnh tranh chiếm thị phần suất khẩu trên thị trường TG. Chính sách ở đây là “tiêu diệt và loại bỏ” các doanh nghiệp yếu hoặc trung bình hoạt động “không hiệu quả” trong một thời gian dài hoặc ngắn. Chính quyền từ bỏ việc điều tiết, cũng giống như thả một đàn gia súc ra cánh đồng, để chúng tự tranh nhau thức ăn, nước uống thay vì phân chia khu vực như trước. Các doanh nghiệp sẽ tự do cạnh tranh, lãi suất ngân hàng tăng, các doanh nghiệp gặp rằc rối về tài chính sẽ “tiêu” trước, họ bị ép phá sản. Các doanh nghiệp đủ “sức khỏe” sẽ qua được thời kì được gọi là “suy thoái có kiểm soát” này. Tuy nhiên chính phủ cũng không để mặc doanh nghiệp, họ giảm thuế, loại bỏ công đoàn, hủy bỏ các điều luật an toàn lao động tốn kém, phá vỡ các hợp đồng bồi thường cho người lao động, bỏ phụ cấp, giảm lương, giảm an sinh xã hội đến tối thiểu. Ủng hộ và tạo điều kiện cho việc sát nhập, mua lại. Điều này khiến một người khéo hình dung có thể tưởng tượng viễn cảnh mà các doanh nghiệp Mỹ đang đối trọi thật giống với “thiên nhiên hoang dã”, và cách họ phải đối mặt với nhau thật là một cuộc “chọn lọc tự nhiên” khắc nghiệt. khi thức ăn khan hiếm, chúng sẽ phải ăn thịt lẫn nhau để tồn tại. Các doanh nghiệp cứng cáp hơn, sẽ có một cách tích lũy tư bản, sinh lợi vô cùng lớn đó là “nuôt chửng” các doanh nghiệp yếu hơn. Được nhà nứơc và luật phá sản trợ giúp họ mua lại với giá rẻ các doanh nghiệp khác, hợp nhất sản xuất, thay đổi nhân sự và trở lên lớn mạnh.
Và thực sự chính quyền Reagan đã làm được một đièu kì diệu, năm 1980 kinh tế mỹ tăng trưởng đột biến đến 4,4%.
Tạo được sự KHÂM PHỤC của một lọat các nước đặc biệt là các nước có nền kinh tế kế hoạch như đông âu. Họ quay ra tán thưởng nền kinh tế thị trường :” Tính linh hoạt và khả năng thích ứng của thị trừơng tự do khiến nó ưu việt hơn nền kinh tế kế hoạch mệnh lệnh trong việc đẩy mạnh đổi mới và tăng trưởng”.
3, Kết quả:
Chúng ta không thể phủ nhận sự kì diệu mà chính sách này đã mang lại cho nền kinh tế Mỹ.
Không chỉ về mặt kinh tế, nó đã làm tốt nhiệm vụ giảm phát, làm cho giới trung lưu Mỹ ủng hộ mạnh mẽ, các nứoc đồng minh của mỹ đã thở phào nhẹ nhõm vì my đã thoát khỏi cuộc khủng hoảng
Tuy nhiên, các nhà lãnh đạo Mỹ đã không lường hết được hậu quả của cuộc suy thoái này(mặc dù nó diễn ra và kết thúc rất “đúng kế hoạch” là trước cuộc bầu cử tổng thống). nó đã đạt được những thành công ngắn hạn, nhưng về dài hạn, người Mỹ đã thất bại trong việc ngăn chặn xu hướng tiếp tục trượt dốc của nền kinh tế Mỹ ngay sau đó.
Và một điều không thể không chú ý. Người Mỹ đã phải trả một cái giá không rẻ chút nào cho sự phát triển đó. Tầng lớp dân nghèo, đa phần da màu và gia đình họ đã bị bần cùng hóa. Một tầng lớp người cao tuổi lớn bị ảnh hưởng bởi các chương trình an sinh bị giảm bớt. người lao động mất dần tiếng nói do công đòan bị dải tỏa, điều kiện lao động trở lên nguy hiểm trong khi bổi thường không còn cơ sở về mặt pháp lý.
Nguyên nhân:
Có một nguyên nhân hết sức cơ bản, đó là chính quyền Mỹ đã đúng khi dự đoán rằng một lượng tư bản lớn sẽ được tập trung lại ở một số doanh nghiệp, và cá nhân.. Nhưng điều này không có nghĩa là những đồng vốn đó sẽ được đầu tư hiệu quả. Giới chức trách Mỹ hy vọng các trùm tư bản sẽ đầu tư vào các dây chuyền công nghệ, nghiên cứu khoa học để có thể thúc đẩy kinh tế mỹ, cạnh tranh với các nứoc mới phục hổi. Tuy nhiên, thực tế thì họ lại đầu tư vào những phi vụ ngắn hạn, cho lời cao và ít rủi do mang tinh chất đầu cơ nhiều hơn. Một phần không nhỏ vốn nằm trong thị trường trái phiếu, cạnh tranh với các khoản mua của Nhật và Châu Âu đối với các trái phiếu kho bạc trung hạn lãi cao dể trả món nợ quốc gia khổng lồ.Số vốn đổ vào “hoạt đông doanh nghiệp trên giấy tờ” (tín phiếu) còn nhiều hơn. Đó là cách bố chí tài sản công nghiệp để thu lời nhanh.Trong một hội chứng sát nhập tương tự như thập kỉ 1920, các nhà tư bản kiếm lời từ việc đầu tư vào sản xuất mới ít hơn việc thâu tóm các công ty khác thường là đối thủ. Cụ thể về những vấn đề này tôi đã có rất nhiều bài viết, nay không nhắc lại nữa.
Và một nguyên nhân không thể không tính đến đó là việc vốn đã bị chạy từ lĩnh vực dân sự sang quân sự. Bị cám dỗ bởi hũ vàng chi tiêu quân sự, những tập đoàn quốc phòng truyền thống nay có them các “đồng nghiệp” đã từng sản xuất hàng dân sự nay cũng nhẩy sang tranh giành thị phần. Nó không chỉ làm khủng hoảng trong đầu tư kém hiệu quả trong lĩnh vực dân sự, mà nó còn làm trầm trọng them tình trạng cạnh tranh không hiệu quả của Mỹ.
Và Chính điều này đã tạo nên một cuộc đầu cơ dài nhất, lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. đó là nguyên nhân làm cho thị phố Wall sụp đổ năm 1987. Đó là một “hậu quả tất yếu”
Trước tất cả những vấn đề này, giải pháp của nước Mỹ trong thời điểm đó đựợc chính quyền kì vọng chính là sang kiến phòng thủ chiến lược SDI hay “chiến tranh giữa các vì sao”. Nói tóm tắt đó là hệ thống phòng thủ tên lửa của Mỹ. Hệ thống này có thẻ tiêu diệt tất cả các tên lửa hành trình “trước khi” nó kịp đổ bộ nên đất Mỹ và các nước đồng minh. MỘt khi hệ thống này hoàn thiện, nó không chỉ đảm bảo vai trò cảnh sát toàn cầu của mỸ mà nó còn có một ý nghĩa kinh té to lớn. các nước đồng minh, kể cả Đức và Nhật sẽ phải “nài nỉ” đẻ Mỹ giúp triển khai hệ thống này. Họ và thậm trí các nước Châu Âu hay bất kì môt nước nào cũng muốn có nó để thoát khỏi việc có thể bị hủy diệt nếu là nạn nhân của một cuộc chiến tranh hạt nhân. Nó sẽ giúp Mỹ không phải triển khai, và nghiên cứu phát triển lực lựong hạt nhân ứng phó với Nga Và Trung Quốc nữa, rảnh tay phát triển kinh tế(có một bài viết của VN cũng nói về chủ đề này nhưng những quan điểm ở nhiều chỗ có thể chưa đồng nhất, các bạn có thể tham khảo: ảnh hưởng của hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia đối vơi quan hệ Mỹ-Trung. ĐÓ Chính là “con ách bài” của chính quyền Mỹ, một dự án “giải quyết mọi vấn đề” của Mỹ. Thậm trí nó còn có vài trò quan trọng trong việc hòa giải, tiến tới chấm dứt cuộc chiến tranh lạnh kéo dài suốt 40 năm.
Tổng thống Nga lúc đó Gorbachev đặt ra điều kiện là Mỹ phải dừng chương trình SDI để đổi lấy sự hòa dịu từ phía Nga, cụ thể là giảm ảnh hưởng của Nga đến các nước ở Châu Phi và thế giới hồi giáo, đồng thời giảm lượng tên lửa của cả 2 bên xuống còn 1 nửa. Thực ra đây chỉ là lý do mà tổng thống Nga muốn dựa vào để thoát khỏi cuộc chiến tranh lạnh hao tiền tốn của. Nứơc Nga không thể tiếp tục đảm nhận vai trò trợ giúp cho một loạt các nước đồng mình của mình, mà ngược lại, Nga cần một sự đảm bảo sẽ chung sống hòa bình của phương tây, và cần phương tây viện trợ để có thể phục hồi nền kinh tế lạc hậu của mình. Vì thế, thực ra ông không mặn mà với việc ép buộc Mỹ phải từ bỏ SDI, mặc dù bị sự phản đối mạnh mẽ từ trong nước. Sở dĩ ông Nghĩ như vậy vì ông nghĩ, thực chất không chỉ Nga mà chính nước Mỹ cũng phải chịu những thiệt hại to lớn từ chiến tranh lạnh. Ông tin rằng, quốc hội Mỹ sẽ không mạo hiểm để “xì” ra bất kì đồng đô la nào vào một dự án “tốn kém” và “chưa thấy rõ lợi ích” như SDI. Điều đó càng được ông tin tưởng, khi mà 2 người đứng đầu bộ quốc phòng Mỹ đồng loạt bị loại bỏ, đây là 2 người ủng hộ SDI, thay vào đó là 2 nhân vật khác phản đối. Và một lý do khác còn “chắc ăn” hơn, đó là sự sụp đổ của phố Wall năm 1987. vì vậy, thực chất lúc này Nga muốn bằng mọi cách, thậm trí mọi giá hòa giải với Mỹ, nếu không muốn để nước Nga thụt xuống hố sâu của khủng hoảng.

Tình hình sau chiến tranh lạnh, kinh tế thế giới tuy có những dấu hiệu phục hồi đáng khích lệ, tuy nhiên nó vẫn tiềm ẩn những nguy cơ khủng hoảng nghiêm trọng. Tình hình chính trị ở Trung Đông bất ổn, khủng hoảng năng lượng, khủng bố. và đặc biệt, nước Mỹ, đầu tầu thúc đẩy kinh tế TG cũng đang lâm vào những hiện trạng hết sức khó khăn. Dưới đây có thể là một vài ý kiến, nhận xét về nứoc Mỹ, và tình hình thế giới, hiện tại và tương lai.
Chiến tranh lạnh kết thúc, nhưng hậu quả nó để lại thì không dễ dàng, thậm chí khó có thể khắc phục một sớm một chiều. một thời gian dài sau đó, nền kinh tế TG lao đao, không thể phục hồi trở lại, kéo theo nó là một loạt các lien minh khu vực được hình thành. Các nước, kể cả các nước đồng minh của Mỹ đều dần dần thay đỏi chính sách kinh tế “hướng nội” hơn. Điều này trái ngược hoàn tòan với những thứ mà Mỹ muốn tạo dựng. Và bất ngờ hơn, ngay cả khi các nước,muốn tăng cường cho quân đội, hạn chế sự ảnh hưởng và phụ thuộc cả về kinh tế lẫn chính trị vào Mỹ, Mỹ “không hề phản đối”. Phải chăng đây là sự “bất lực” của một người khổng lồ đã hết thời hay là một sự “yên lặng có trù tính”?
Để làm rõ được điều này, chúng ta cần phân tích tình hình của nước Mỹ sau chiến tranh lạnh. Thời gian đầu không ít nhà ngoại giao Mỹ vẫn còn rất “hào hứng” với “chiến thắng” trong chiến tranh lạnh, họ tuyên bố rằng, bây giờ là thời kì của Mỹ, của chính sách bá quyền Mỹ, mà không gì có thề cản trơ nổi. Thế nhưng, trớ trớ trểu thay, thời gian đã làm họ giật mình tình giấc. nền kinh tế Mỹ đã phải chịu những hậu quả nặng nề hơn người ta tưởng. thời kì suy thoái triền mien ngay sau đó đã dần chứng mình điều đó. Lúc đầu, các nhà phân tích, không hề “bi quan” về suy thoái, họ nghĩ, khủng hoảng như vậy chỉ là do tâm lý người dân và sẽ kết thúc nhanh chóng. Nhưng thực tế thì không phải vậy. đây không chỉ là “khủng hoảng thừa” đơn thuần, khủng hoảng lần này của Mỹ suất phát từ “cơ cấu nền kinh tế”, một thứ mà k hông phải “muốn đổi là đỏi được”. đó là hậu quả của việc tập trung sản xuất quân bị phục vụ cho chính sách ngoại giao quân sự. hậu quả trực tiếp là các ngành sản xuất dân dụng tiếp tục suy thoái, không hiệu quả và không thể cạnh tranh trên thị trường TG. Thiết bị quân sự thì không thể tiêu thụ do chiến tranh lạnh kết thúc. Và việc khắc phục bắt buộc phải thực hiện những chính sách “đau đớn” đó là việc tái cơ cấu, một điều có thể tạo lên làn sóng phản đối, biểu tình, thậm trí bạo động.. vào lúc này, Mỹ thực sự không thể tiếp tục đảm nhận hoặc tiếp tục theo đuổi chính sách bá chủ như trước. vì vậy, khi các nước muốn “tự lập” Mỹ không hề phản đối, vì như thế là bớt đi một phần gánh nặng, đặc biêt là tự lập về quân sự, sẽ khiến Mỹ có đựợc nhưng đơn đặt hàng giá trị. Lời cam kết viện trợ với Nga phần nào lung lay. Kinh tế lạc hậu, chính trị bất ổn, 2 cuộc đảo chính diễn ra, Gorbachev phải ra đi, thay vào đó là nhà quân sự Yeltsin, một người thân phương tây, quyết tâm theo đuổi chính sách dựa vào viện trợ tài chính và kĩ thuật để vực dậy nền kinh tế lạc hậu của Nga. Mặc dù vậy, việc thay đổi người lãnh đạo, không làm nước Nga thoát khỏi cuộc khủng hoảng xã hội sâu sắc. Những tưởng, các phong trào biểu tình, bạo loạn, sẽ lắng xuống sau khi Gorbachev ra đi, tuy nhiên, tình hình lại càng them bất ổn khi chính trường Nga lao đao bởi những âm mưu tranh giành quyền lực giữa các đảng phái, đảng cộng sản Nga đang trỗi giậy, muốn giành lại sự ủng hộ của người dân, chính sách thâu tóm quỳen lực của Yeltsin. Kết quả là kinh tế tiếp tục khủng hoảng, Lạm phát ra tăng, thất nghiệp không hề có giâu hiệu suy giảm. Khủng hoảng chính trị sau đó đã lên tới đỉnh điểm vào cuối thời của Yeltsin. Hàng loạt thủ tướng được bổ nhiệm và “được” cách chức sau đó không lâu, đã làm chính trường Nga lâm vào một vòng xoáy không thể kìm hãm, có thể nhấn chìm tất cả những gì còn lại của nước Nga. Gốc rễ của cuộc khủng hoảng xã hội này là do nền kinh tế trì trệ, thế nhưng, giới cầm quyền Nga dường như có rất ít hoặc không thực sự cố gắng bình ổn tình hình bằng giải pháp thúc đẩy phát triển kinh tế, thậm trí, ngay cả khi có những viên chức, giúp cho nền kinh tế đã bắt đầu có những chuyển đọng tích cực, cũng bị loại bỏ bởi vì những nguyên nhân chính trị, bè phái. Họ không lo tẩp trung nội lực phát triển kinh tế, điều tiết và điều chỉnh lại cơ cấu nền kinh tế cho phù hợp, mà chỉ hướng ra phương tây, tìm kiếm viện trợ. Tuy nhiên, Nước Mỹ, trước cuộc “đại khủng hoảng”, không còn có đủ tiềm lực để viện trợ cho Nga như đã hứa hẹn, nước Nga chỉ còn biết hướng sang Nhật và Đức, hy vọng vào nguồn viện trợ từ các nước này để có thể phục hồi kinh tế, bình định cuộc khủng hoảng xã hội đang vào hồi “gay cấn”. Nhưng thậm trí, đến 2 nước này, cũng khó có thể và thực tế là đã không trợ giúp Nga được như những đièu mà nước Nga mong muốn. Nước Đức, phải tập trung tiền của cho việc thống nhất 2 miền “càng nhanh càng tốt”, mặc dù Nga đã cố gắng ngăn cản nhưng không thành công trước những quyết tâm của người Đức. Còn Nhật Bản, có một nước Trung Quốc rộng lớn đang mời chào đầu tư. TQ, là một đối tác, một thị trường truyền thống mà nước Nhật mong muốn tiếp cận từ rất lâu, đặc biệt với tình hình chính trị ổn định chắc chắn hấp dẫn hơn nhiều một nước Nga với một nền chính trị đầy biến động, và một tương lại đầy bát ổn.
Nhưng mọi việc không chỉ dừng lại ở đó, liệu chiến tranh lạnh chỉ để lại những hậu quả thảm khốc là những nền kinh tế “méo móm” ở Mỹ và Nga, hay nó còn có những hậu quả xa xôi hơn, ảnh hưởng đến tận ngày nay? Có những nhận định cho rằng chính Nga và Mỹ là những nước thất bại trong chiến tranh lạnh, còn Đức , Nhật, Tây Âu là những kẻ chiến thắng và hưởng lợi từ Chién tranh lạnh.Quả thực, không thể phủ nhận rằng, trên thực tế họ đã kiếm được một số tiền không nhỏ từ chiến tranh lạnh, nhưng liệu họ có “chiến thắng” ? Một nền kinh tế TG đã phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Mỹ, Mỹ khủng hoảng, nhu cầu giảm xuông đến mức “thảm hại” vơi những hàng hóa xa xỉ trước kia. Đức và Nhật cũng có nguy cơ “chết trùm” theo Mỹ bởi vì chính sách hướng ra xuất khẩu của mình. Thực tế đã chứng minh điều đó. Ngay cả Tây Âu cũng không tránh khỏi khủng hoảng. kết quả là một thời kì đen tối, nền kinh tế thế giới trở lên trì trệ. Và trong tình trạng đó, chỉ có các nước công nghiệp mới của Châu Á là tiếp tục phát triển với tốc độ đáng kể. không phải là chính quyền các nước không tích cực giảm thiểu và thay đổi tình hình, thế nhưng “sai sót ở cơ cấu” không thể được khắc phục ngay. Và kết quả là khủng hoảng kéo dài, các nước đứng trước một quyết dịnh không thẻ tránh khỏi, thay đổi cơ cấu kinh tế để “bớt” lệ thuộc thị trường Mỹ. Chủ nghĩa dân tộc kinh tế lại một lần nữa “lên ngôi”.

Và không chỉ dừng lại ở đó, mọi diễn biến sau này mới “thực sự bất ngờ” bất ngờ với tất cả. Cả phe đồng minh của Mỹ, lẫn phe XHCN còn sót lại hay đã sụp đổ, bất ngờ với cả những kẻ “thắng” và “thua” trong chiến tranh lạnh. Một sự việc đã thay đổi hoàn toàn cục diện, tình hình tg, thậm trí thay đổi hoàn toàn đường lối phát triển của một số nước. Mở đầu một trang mới cho lịch sử tg.
Và một lẫn nữa, biến cố to lớn ấy lại là “một cuộc khủng hoảng” và không từ đâu khác. Nó lại xuất phát từ Mỹ. đó là khủng hoảng dotcom. Bắt đầu phải kể đến việc chính phủ Mỹ ứng dụng mạng nội bộ để trao đổi thong tin phục vụ cho quốc phòng. Nhưng ngay sau đó, việc phổ biến máy tính và đổi mớicác phương thức, công cụ truyền dẫn, trao đổi thong tin. Mạng Internet đã nhanh chóng lan rộng sang phục vụ cho dân sự và kinh tế. Máy tính và Internet đã thay đổi hoàn toàn cách lưu trữ, chia sẻ dữ liệu. khi mà người ta chỉ cần ngồi nhà, với một máy tính nối mạng, có thể làm việc, giải trí, mua sắm, tham gia hội thảo, bàn bạc, kí kết hợp đồng. Khi mà người ta ở nhà vẫn có thể tham giự các khóa học họ muốn, gặp gỡ những người bạn than ở xa và nhu cầu là “số hóa mọi thứ”, “bỏ” mọi thứ của họ vào máy tính của họ nếu có thể. Đó có thể là tài liệu, film ảnh, sách báo và lúc đó sẽ có một nhu cầu mới là truyền tải và chia sẻ ngững tài liệu đó với người khác, vai trò của Cáp Quang… và đó là khởi đầu cho việc người ta hy vọng vào tiềm năng tăng trưởng “vô biên” của thị trường cáp quang và của các công ty kinh doanh mạng mà sau này người ta gọi là tham gia lĩnh vực “thương mại điẹn tử”> Đó là sự đầu tư thái quá của thị trường Mỹ vào bong bong các công ty mạng. Người ta nghĩ rằng nhu cầu về mạng máy tính sẽ tăng mãi. Chính vì vậy, người Mỹ thi nhau đổ tiền vào các công ty mạng, đổ tiền vào các nhà cung cáp dịch vụ, lắp đặt cáp quang. Và thời gian đầu, tăng trưởng của nó hoàn toàn đúng như dự đoán. Nhưng ngay sau đó, một cuộc khung hoảng trầm trọng diễn ra do người ta không sử dụng hết những đường dây cáp quang đã được lắp đặt, giá của cổ phiếu các công ty cung cáp dịch vụ rớt thê thảm. Người dân đua nhau rút tiền khỏi các công ty này. Nhưng tất cả đã quá muộn. Một số lượng lớn người dân Mỹ và những công ty lớn bị tổn thất nghiêm trọng do cuộc khủng hoảng này. Và dù là khủng hoảng, nhưng nó là một cú “huých” mạnh mẽ thay đổi nền kinh tế Mỹ và rất nhiều nước khác. MỞ ra một thời kì hoàn toàn mới cho lịch sử nhân loại, cơ hội cho những nước tụt hậu có cơ hội đuổi kịp các nước phát triển. MỘt cơ hội lịch sử mang lại cho những ai biết tận dụng. Nhưng vấn đề đó nằm ngoài nội dung của bài viết này. Các bạn có thể tìm hiểu thong qua các tài liệu về toàn cầu hóa, đây thực sự là một quá trình “thú vị”. Các bạn sẽ có được rất nhiều thứ khi tìm hiểu về toàn cầu hóa…

May mắn được sống sót!

MAY MẮN ĐƯỢC SỐNG SÓT

Bộ phim Occurrence at Owl Creek Bridge (biến cố xảy ra ở cầu Owl Creek) kể lại chuyện một người đàn ông sắp bị treo cổ. Bọn lính địch của anh dẫn bộ anh ra một chiếc cầu bắc ngang qua sông Owl Creek. Chúng lấy một tấm ván đặt một phân nửa lên cầu còn phân nửa kia để lòi ra khỏi thành cầu. Đoạn một tên lính đứng lên nửa tấm ván trên thành cầu, còn người tử tội bị dẫn ra đứng trên nửa tấm để lòi ra khỏi thành cầu. Kế đó, người ta cột chặt tay chân người tử tội, đoạn thòng một sợi dây từ đỉnh cầu xuống quấn vào cổ anh ta. Khi mọi sự đã sẵn sàng, viên chỉ huy sẽ ra hiệu lệnh thì người lính sẽ nhảy ra khỏi tấm ván, lập tức người tử tội bị hất xuống phía dưới với sợi dây siết vào cổ anh.
Ngay bấy giờ một điều kỳ lạ đã xảy ra. Sợi dây bị đứt và người tử tội rơi tỏm xuống lòng sông. Anh ta chìm sâu dưới nước. Lúc bấy giờ anh ta ý thức được mình vẫn còn sống và anh cố gắng tháo gỡ dây trói nơi tay và chân ra. Thật kỳ diệu thay, anh đã tự cởi trói cho chính mình được. Thế rồi khi nhận ra mình có cơ may sống sót, anh ta bắt đầu lặn sâu xuống. Sau đó, anh bơi ngang qua một cành cây đang bềnh bồng trên mặt nước. Anh xúc động vì vẻ đẹp của những tàu lá cây. Anh sững sờ vì những đường gân phức tạp nơi tàu lá. Một lúc sau, anh nhìn thấy một chú nhện đang giăng lưới. Anh lại xúc động trước vẻ đẹp của nàng nhện và những giọt nước bám vào đó lấp lánh không khác gì những hạt kim cương. Anh cảm thấy mình sũng nước, anh liền ngước lên nhìn vào bầu trời xanh biếc, đối với anh, chưa bao giờ thế giới lại xinh đẹp thế!
Bỗng nhiên đám lính đứng trên đầu cầu bắt đầu nhả đạn xuống. Anh liền cố gắng lướt tới dưới làn mưa đạn, bơi nhanh nhẹn như một chú rắn nước băng qua nhiều ghềnh thác. Cuối cùng, anh cũng bơi được vào bờ và hoàn toàn kiệt sức. Anh ngã xuống cát, lăn qua lăn lại. Khi ngước nhìn lên anh trông thấy một bông hoa. Anh liền bò tới đưa mũi ngửi và thầm nhủ: Ôi! Mọi sự sao mà đẹp thế! Được sống sót quả là một điều vĩ đại biết bao! Nhưng ngay sau đó có tiếng đạn rít qua các tàng cây; anh vội đứng lên và bắt đầu co giò chạy tiếp. Anh chạy hoài chạy mãi tới khi đến được một căn nhà có hàng rào trắng bao quanh. Những cánh cổng bỗng mở ra một cách kỳ diệu. Anh không thể nào tin vào mắt mình: thế là anh đã về được đến nhà bình an. Anh gọi tên vợ anh và nàng vội chạy thật nhanh ra cổng giang tay chào đón anh.
Ngay khi họ vừa ôm nhau, máy quay phim mang chúng ta trở lại chiếc cầu Owl Creek. Bây giờ, chúng ta lại không thể tin được vào mắt mình khi nhìn thấy xác của chính anh ta bị treo thòng xuống đang đong đưa qua lại với sợi dây siết quanh cổ. Thì ra anh đã chết rồi!

**********************************
Quả thực ai cũng cảm thấy sững sờ: thế là mọi nỗ lực trốn chạy và cơ may được sống sót chỉ là sản phẩm thuần tuý của trí tưởng tượng thôi. Người đàn ông ấy không chạy thoát được. Anh ta chỉ tưởng tượng ra điều ấy trước giây phút cảm thấy cái chết cận kề. Anh mơ thấy mình có cơ may được sống lần thứ hai. Và bỗng dưng anh cảm nhận sự sống ấy bằng đôi mắt hoàn toàn mới lạ.
Lần đầu tiên, người tử tội cảm thấy thế giới này quả là một nơi tuyệt hảo. Lần đầu tiên anh ta thấy cuộc sống quả là món quà quí báu mà anh và những người thân yêu của anh cũng được hưởng. Phải chi anh đã thực sự trốn thoát được và có một dịp may được sống sót lần thứ hai. Lúc đó chắc hẳn anh sẽ sống cuộc sống mới này một cách khác thường biết bao!
Điều này gợi lên cho ta một câu hỏi. Tác giả bộ phim đã nghĩ gì trong trí ông dựng một câu chuyện này. Ông muốn nói gì với khán giả? Nói cách khác tại sao tác giả đã cố ý phỉnh gạt chúng ta? Tại sao ông lại dựng nên một sự thất vọng khủng khiếp đến thế? Tại sao ông lại làm cho chúng ta tưởng rằng người tử tội ấy có được cơ may sống sót?
**********************************
Hãy để mỗi chúng ta biết trân trọng yêu qúy sự sống! Hãy để chúng ta ý thức rằng chúng ta chỉ có một lần để sống. Cuộc sống mai sau của chúng tasẽ lệ thuộc vào cách chúng ta sống hôm nay. Khi biết sống chúng hãy biết đến cái chết và đừng bao giờ để mình phải nuối tiếc vì những tháng ngày đã qua, không bao giờ phải xót xa vì đã quên sống.
&&&&&&&&

Trùng hợp chăng? Tại sao lại cứ vào những thời điểm quan trọng, những lúc ta đưa ra những quyết định thay đổi cuộc đời mình, thì ấy lại là lúc ta nhận được những thông tin, sự khích lệ, từ một cuốn sách, hay từ những bài viết của ta – từ rất lâu rồi? Ta đã sẵn sang – để gieo những niềm tin mới – những cách làm mới!
Sẵn sang thay thế một trái tim “khôn ngoan” – bằng sự “chân thành”! Và ta sẽ thực sự cảm nhận cuộc sống – như những gì tốt đẹp nhất, và ta sẽ lấy lại, những gì thú vị, ta đã bỏ lỡ suốt thời gian qua, để chạy theo một thứ - chưa chắc đã có thật!

Đợi chờ!

Đợi chờ

Đây là một tác phẩm văn học đương đại TQ được hội nhà văn Mỹ đánh giá rất cao bởi vì nó không chỉ có ý nghĩa về mặt văn học mà còn mang
tính chính trị sâu sắc.
Được giới thiệu tại chương trình “mỗi ngày một cuốn sách”.
Tác phẩm là câu chuyện kể về một người đàn ông TQ 18 năm liền, năm nào cũng quay trở về TQ để li dị vợ. Tuy nhiên, lần nào ông cũng trở về
tay không. Nguyên nhân là vào phút cuối người vợ đều không đồng ý. Ông đang sống vào thời đại mà người đàn ông muốn li dị vợ trong 18
năm đầu phải được sụ chấp thuận của vợ.
Ông đã chuyển sang Mỹ sống sau sự kiện Thiên An Môn. Lý do ông ly dị vợ là vì ông đã có một cuộc song không hạnh phúc ngay từ đầu. Hơn
nữa ông lại yêu một người y tá . 18 năm qua, tình yêu ấy chỉ được thể hiện qua ánh mắt, không ai thể và k hông giám nói thành lời. Một tình yêu
không được pháp luật công nhận.
Và đây là lần thứ 18 . Chắc chắn người đàn ông sẽ có được thứ mà mình mong muốn từ 18 năm qua. Tưởng chừng chuỗi ngày đau khổ của
ông sẽ kết thúc. Tuy nhiên, ngay vào lúc này đây, ông lại tự đặt ra cho mình những câu hỏi, rằng sự kiên nhẫn của ống, sự chờ đợi, hy vọng và
quyết tâm ấy là vì cái gì. Ông đã mất 18 năm để có thể vượt qua cái có thể gọi là hủ tục, liệu có đáng. Và ông làm như vậy để làm gì? Sự kiên
nhẫn ấy, liệu có phải xuất phát từ tình yêu? Nếu người vợ của ông không “bó chân”, và có một khuôn mặt dễ coi hơn, liệu ông có muốn li dị bà.
Lần này, chắc chắn ông sẽ có được điều mình muốn, tuy nhiên ông lại băn khoăn về mục đích thực sự của những điều ông đang làm, những thứ
mà ông đã theo đuổi.

Đó là những nhận định từ phía những nhà phê bình khoa học. Tuy nhiên, với tôi, dù chưa được đọc tác phẩm nhưng có vẻ như mọi chuyện chưa
dừng lại ở đó. Dường như, phía dưới của áng văn ấy còn một ý nghĩa sâu xa. Một tầng nghĩa khác. Trước đây, ông chỉ có một mục đích là
thuýêt phục vợ đồng ý li dị, và ông đã làm tất cả vì điều đó. Ông đã rất kiên nhẫn. tuy nhiên, đến khi sắp đạt được mục đích ông lại băn khoăn về
những điều mình đang làm. ở ông đang có một cái gì đó rằng xé< giữa đúng và sai, đạo đức và vô đạo đức, tình yêu hay là cái gì khác? Sự tàn
nhẫn hay vô tâm. Ông đã tốn 18 năm để theo đuổi cái gì/ Phải chăng, tất cả nhữgn điều đó, còn có ý ám chỉ nền chính trị TQ, điều mà TQ theo
đuổi, liệu có phải cũng giống như một người đàn ông mất 18 năm để đi tìm “sự tự dọ”, sự giải thoát, vượt qua một “hủ tục”, hủ tục suất phát từ
con ngừời, những suy nghĩ, thậm trí là niềm tin mù quáng. Đó là những cảm nhận của ông về thời kì hậu cách mạng vh, những tàn dư hay ông
còn muốn nói đến một cái gì đó rộng lớn hơn. Những thứ mà người TQ đang đeo đuổi hoặc đang “cố tin hay cố từ bỏ”> vị thế của chúng ta và
của TQ là hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên, lịch sử và hiện tại, thực chất chúng ta đang cố gắng hướng tới một cái đích chúng, một cái đích rất lí
tưởng, tuy nhiên liệu có phù hợp với tình hình thực tế. Chúng ta đã từng sai lầm và chúng ta đã sửa, tuy nhiên, sự “duy ý chí” , những kẻ nói giỏi
hơn làm, những người chỉ biết đưa ra những lí luận áp đặt mà không hiểu biết gì về thực tế. chúgn ta đã phải trả cái giá tương đối đắt cho
những sai lầm đó, và thực sự chúng ta không mong chờ sai lầm đó lại đặt nền tảng cho những sai lầm tiếp theo. Thế nhưng thực tế, còn rất
nhiều những thứ là tàn dư, là hủ tục, là niềm tin mù quáng vẫn đang còn hiện diện trong chúng ta. Chúng giống như cái luật lệ hà khắc mà người
đàn ông kia phải đeo đuổi gần như cả cuộc dời hay chí ít cũng là tuổi thanh xuân của mình. Cái tuổi hạnh phúc nhất của ông đã bị một hủ tục ám
ảnh, đeo bám. Ông cố muốn kêt thúc nó nhưng ông lại không nhận thức rõ rang về nó, chỉ đến khi mọi việc dường như “tự nó kết thúc” thì ông
mới giật mình mà rằng liệu những thứ mình đang đeo đuổi có đáng, liệu để cả tuổi thanh xuân bị ám ảnh bởi một cái gì đó vô hình, không có
thật, một luật lệ của kẻ khác áp đặt, liệu có đáng.?
Và còn nhiều, rất nhiều những suy nghĩ của tôi khi nghe chương trình giới thiêu về cuốn sách. Tuy nhiên, có lẽ chúng ta sẽ hiểu them rất nhiều
nếu trực tiếp đọc cuốn sách này. Tôi hy vọng, một ngày nào đó, sẽ đọc nó, nhưng không phải là bây giờ, bởi những điều băn khoăn của tg trong
cuốn sách, một phần nào đó đã được tôi giải đáp từ trước đây khá lâu. Tuy nhiên có thể đây chỉ là những suy nghĩ chủ quan của cá nhân tôi về
cuốn sách. Đó là cách hiểu của riêng tôi về cuốn sách, nó có thể đúng hoặc sai với bạn nhưng đó là những thứ mà tôi nhận được khi được giới
thiệu về nội dung chủ để cuốn sách.

Đế chế của ta!


Xêra đại đế, một ông hoàng của những ông hoàng, hoài bão, tài năng, tham vọng của ông, đã tạo nên một đế chế la mã hung mạnh, một giai đoạn lịch sử “khốc liệt” của tham vọng, âm mưa, của chiến tranh, tàn sát, thong tính và mở rộng bờ cõi. Và các bạn đã từng đặt một câu hỏi tưởng chừng ngớ ngẩn “mục đích cuộc songs của ông là gì chưa?”, nhưng để trả lời bạn sẽ phải giật mình vì nó không đơn giản. Bạn nói đó là gì, đất đai, quyên lực, tham vọng, .. và ông có tự hào về sự nghiệp của mình? có thể bạn sẽ bất ngờ khi biêt được một câu chuyện. Vào thời gian cuối của cuộc đời, khi ông đã về già, việc làm ông lo lắng nhất lại chính là việc tìm người kế vị, và ông chết, bởi chính tay con trai của mình, ngay sau khi đế chế La Mã thống nhất!: ông trị vì được 25 năm thì chỉ có 4 năm được sống trong hòa bình. Hành trang cho cuộc đời của ông có lẽ chỉ là một thanh kiếm, và hành trình cả đời của ông có lẽ là đeo đuổi một cái gì đó “ảo ảnh” đến mức quên cả gia đình mình. Không tìm nổi một người xứng đáng kế vị trong hoàng tộc, rồi lại bị sát hại bởi chính người con trai của mình.
Như ông đã nói với con trai “tất cả mọi thiếu sót trong vị trí làm con của con, đều là do thất bại do việc làm cha của ta”. Điều đó đúng đắn đến mức nào?
Sẽ có ý nghĩa gì khi cả đời ta theo đuổi một sự nghiệp “cá nhân” rời xa cả chính gia đình của mình. Nhưng không, không thể nói Xêra như vậy, bởi việc ông lựa chọn trao quyền trị vì vương quốc của mình cho người khác, điều đó chứng mình một thứ, sự nghiệp của ông, công trình của cả đời ông đó là đế quốc La mã, và vào thời khắc sắp ra đi, ông nhìn lại và chợt nhận ra ý nghĩa thực sự của cuộc sống, của chiến tranh. Lúc này, ông khao khát một cuộc sống thanh bình, là thứ mà ông thiếu, là thứ mà ông bị ám ảnh cả cuộc đời. Ông chiến đấu, có lẽ vì nỗi bất an có ai đó sẽ cướp mất vị trí của ông, và để ngăn chặn điều đó, ông không ngừng mở rộng bờ cõi, tiêu diệt những kẻ chống đối, dù ông biết rằng “kẻ thù chẳng bao giờ hết cả”. Có thể nói, ông đã thành công, về mặt ngăn chặn hoặc tiêu diệt những thế lực chống đối. Nhưng điều đó có ý nghĩa gì khi mà vương quốc của ông sụp đổ ngay khi ông qua đời, khi mà cả đời ông phải đối mặt với chết chóc, chem. Giết. khi mà kết quả cuối cùng là ông bị hại bởi chính con trai mình.
Dù không bi thảm như vậy, nhưng đã biết bao tấm gương trong lịch sử Napoleon, Lưu Bang, Tần Thủy Hoàng. Họ mải mê lao vào những cuộc chinh phạt, những cuộc đàn áp, cho dù đã có lúc họ ở trên đỉnh cao quyền lực, nhưng những quyền lực đó liệu có vững bền. Để rồi hoặc là vương quốc mình tạo dựng rơi vào tay kẻ khác, hoặc phải nhẫn tâm tiêu diệt hết cả “trụ cột” của đất nước, những kẻ có thế sẽ đe dọa vị trí của các thế hệ sau của mình. Tại sao? Những con người vĩ đại như vậy, lại, có thể nói là thất bại trong việc nuôi dậy con cái? Đó là một câu hỏi lớn, nhưng dường như, một phần nào đó có cùng câu trả lời.
Lại nói đến thời kì hiện nay, khi mỗi một chủ doanh nghiệp thật giống như một ông vua đi xây dựng vương quốc của mình. Vương quốc sẽ phải đối mặt, cạnh tranh, tiêu diệt và thôn tính các nước láng giềng. Và nếu có tư tưởng “mở rộng bờ cõi” như của Xêra, thì có lẽ cuộc đời của chúng ta sẽ có một hình mẫu tiêu biểu chính là Xêra .Cả cuộc đời theo đuổi một mục đích, không có giới hạn. Sẽ có lúc, chúng ta mệt mỏi, hoặc bất lực không thể làm gì hơn, khi tuổi già kéo đên, chúng ta sẽ chợt dừng lại và tự hỏi rằng, đâu là ý nghĩa thực sự của cuộc sống? Đâu là những thứ mà chúng ta đã và đang theo đuổi, chúng ta đã bỏ lỡ những gì, và những thứ chúng ta có, liệu có đáng với những gì chúng ta mất đi. Lịch sử sẽ nói gì về chúng ta. Gia đình nghĩ gì về chúng ta, ngoài việc để lại một gia tài kếch xù sau khi chúng ta chết. Và có lẽ việc tiêu xài chúng dễ dàng hơn nhiều so với việc làm ra chúng. Và chúng ta lại có một thế hệ bất lực, yếu kém, hay sao?
Vậy đâu là mục đích thực sự, và giới hạn của sự nghiệp là đâu? Làm sao để cân bằng giữa sự nghiệp và gia đình. Đó là một câu hỏi, và mỗi người sẽ tự tìm cho mình một câu trả lời thỏa đáng. Có người sẽ hạnh phúc, hoặc có người sẽ nuối tiếc, nhưng hy vọng, đến cuối cuộc đời, chúng ta nhìn lại và tự hào vì những gì chúng ta đã làm được cho xã hội, và cho gia đình.
Đọc lại – ta chợt “giật mình”! Đã có lúc ta lo nghĩ về điều đó – đó là thời điểm mà ta nghiện tiểu thuyết, nghiện film anh, nghiện tranh luận – về chiến tranh, về đạo đức, về giá trị - và về sự khôn ngoan! Đó chính là lúc – đã tạo cho ta tính cứng cỏi – quyết đoán – nhưng cũng chính là lúc tạo cho ta một chút gì đó “sẵn sang tàn nhẫn – sẵn sang vô tâm”!
Ta đã mạnh lên rất nhiều – kể từ ngày ta viết những dòng này – nhưng giờ - có lẽ là lúc ta thay đổi!
Ta đã bỏ qua nhiều thứ, ta không hối tiếc, nhưng ta cũng thấy hơi “hụt hẫng”! Ta đam mê tốc độ, ta khoái chí với cảm giác ta “di chuyển” nhanh hơn kẻ khác, mạnh hơn kẻ khác và tài giỏi hơn kẻ khác! Ta kiêu ngạo – vì ta thông minh, vì ta giỏi dang, và vì ta nghị lực!
Nhưng ta thấy trống vắng!
Ta cô độc!
Ta có nhiều bạn, nhưng ai trong số đó thực sự hiểu ta – và sẽ đi cùng ta trên con đường ta đang đi?
Dường như ta đang sống gấp, đang sống vội, ta đang xây dựng đế chế của ta, đã có lúc động lực đó đã thôi thúc, đã giục giã, đã truyền cho ta đủ nghị lực , đủ sức mạnh để ta vượt lên, để ta chiến thắng! Nhưng ta quá đam mê với mục tiêu, mà quên đi mục đích! Ta sống mạnh mẽ, sống động, nhưng trống trải – và dường như nhàm chán!
Đã qua cái thời ta phải lo lắng về chuyện học hành, chuyện điểm số. Khi không được như ý, ta điều chỉnh mọi thứ, thậm trí cả các mối quan hệ của mình, với chỉ một mục đích cải thiện kết quả! Ta học ăn thua, học cay cú. Ta học cách tự kiêu – để ta có them sức mạnh, ta học thói phớt đời – để ta khỏi phải bận tâm – ta học cách đố kỵ - để ta có thể tiến tới!
Và ta đã đạt được những gì ta muốn! Nhưng liệu đó có phải là những gì ta thực sự muốn? Ta nghĩ ta sẽ hạnh phúc, ta sẽ khoái chí, khi ta đạt điểm cao, khi ta là số một, nhưng khi có nó, ta lại thấy bình thường – thật tẻ nhạt!
Đôi lúc, ta cảm thấy không ổn, và ta điều chỉnh, nhưng những điều chỉnh ấy – chỉ là phần nổi của vấn đề ta gặp phải! Đã đến lúc ta đào sâu vào nó………
Vậy, ta đang thiếu những gì – và ta thực sự cần những gì?

Tâm lý đám đông và phân tích cái tôi

- dù các cá nhân có là ai đi chăng nữa, dù cách sống của họ, công việc của họ, tính cách hay trí tuệ của họ có thế nào đi chăng nữa, chỉ một việc tham gia của họ vào đám đông đã đủ để tạo ra một dạng linh hồn tập thể, buộc họ cảm, suy nghĩ và hành động khác hẳn lúc họ đứng riêng một mình. Một số tư tưởng và tình cảm chỉ xuất hiện và biến thành hành động khi người ta tụ tập thành đám đông. Đám đông tâm lí là một cơ thể lâm thời, được tạo ra từ những thành phần khác nhau, nhất thời gắn kết với nhau giống như các tế bào trong thành phần một cơ thể sống và bằng cách liên kết đó tạo ra một thực thể mới có những tính chất hoàn toàn khác với tính chất của các tế bào riêng lẻ.”
- nếu các cá nhân ở trong đám đông đã liên kết thành một khối thống nhất thì nhất định phải có một cái gì đó liên kết họ lại với nhau và có thể cái mắt xích liên kết đó chính là đặc trưng của đám đông.
- Người phân tích tế nhị nhất, người quan sát thấu đáo nhất cũng chỉ có thể nhận ra một phần rất nhỏ các động cơ vô thức mà anh ta phục tùng mà thôi.
- Những hành động hữu thức của chúng ta xuất phát từ nền tảng vô thức, đượctạo lập bởi ảnh hưởng di truyền. Nền tảng vô thức đó chứa đựng hằng hà sa số các dấu tích di truyền tạo nên chính linh hồn của nòi giống. Ngoài những nguyên nhân điều khiển hành vi của chúng ta mà chúng ta công nhận công khai còn có những nguyên nhân bí mật mà ta không công nhận, nhưng đằng sau những nguyên nhân bí mật ấy còn có những nguyên nhân bí mật hơn vì chính chúng ta cũng không biết đến sự hiện hữu của chúng.
- Le Bon cho rằng trong đám đông, sở đắc của từng cá nhân bị xoá nhoà đi và vì vậy cá tính của từng người cũng biến mất theo. Cái vô thức của nòi giống vượt lên hàng đầu, cái dị biệt chìm trong cái tương đồng. Chúng ta có thể nói: thượng tầng kiến trúc tâm lí phát triển một cách hoàn toàn khác nhau ở những cá thể khác nhau đã bị phá hủy và nhân đó cái nền tảng vô thức đồng đều ở tất cả mọi người mới biểu hiện ra.
- “Nguyên nhân thứ nhất là cá nhân, nhờ có đông người, thấy mình có một sức mạnh vô địch và nhận thức đó cho phép anh ta ngả theo một số bản năng, mà khi có một mình anh ta phải kiềm chế. Người ta giảm hẳn xu hướng chế ngự bản năng còn vì đám đông là vô danh và vì vậy chẳng phải chịu trách nhiệm gì hết. Trong đám đông ý thức trách nhiệm, vốn luôn luôn là cái cơ chế kìm hãm các cá nhân riêng lẻ, đã biến mất hoàn toàn”.
- Theo quan niệm của mình, chúng tôi không chú trọng nhiều đến việc xuất hiện những phẩm chất mới. Chúng tôi chỉ cần nói rằng con người trong đám đông là đã nằm trong những điều kiện cho phép anh ta loại bỏ mọi đè nén các dục vọng vô thức của mình. Những phẩm chất có vẻ mới mà cá nhân thể hiện thực ra chỉ là biểu hiện của cái vô thức là cái chứa đựng toàn bộ những điều xấu xa của tâm hồn con người; trong những điều kiện như vậy thì việc đánh mất lương tri hay ý thức trách nhiệm là điều dễ hiểu. Chúng tôi đã khẳng định từ lâu rằng cốt lõi của cái gọi là lương tâm chính là “nỗi sợ hãi do xã hội ấn định”
- sự lây nhiễm, góp phần tạo ra và quyết định xu hướng của những tính cách đặc biệt trong đám đông. Lây nhiễm là hiện tượng dễ nhận ra nhưng khó giải thích; phải coi như thuộc về lĩnh vực các hiện tượng thôi miên mà chúng ta sẽ nghiên cứu sau. Trong đám đông mọi tình cảm, mọi hành động đều có tính hay lây, hay lây đến độ cá nhân sẵn sàng hi sinh quyền lợi của mình cho quyền lợi tập thể. Tuy nhiên hành vi đó là trái với bản chất của con người và vì vậy người ta chỉ hành động như vậy khi họ là một phần tử của đám đông”
- nguyên nhân quan trọng nhất, làm xuất hiện những phẩm chất đặc biệt đó ở các cá thể giữa đám đông, những phẩm chất mà cá thể không có khi đứng một mình, đấy là khả năng dễ bị ám thị; “Như vậy là sự biến mất của cá tính hữu thức, vô thức đóng vai trò chủ đạo, tình cảm và tư tưởng do bị ám thị mà hướng về một phía và ước muốn biến ngay những tư tưởng do ám thị mà có thành hành động là những đặc trưng chủ yếu của cá nhân trong đám đông. Anh ta đã không còn là mình nữa, anh ta đã thành một người máy, không ý chí”
- “Như vậy là khi tham gia vào đám đông có tổ chức mỗi người đã tụt xuống một vài nấc thang của nền văn minh. Khi đứng một mình có thể anh ta là người có văn hóa, nhưng trong đám đông anh ta là một gã mọi rợ, nghĩa là một sinh vật hành động theo bản năng. Anh ta có xu hướng dễ bộc phát, hung hãn, độc ác nhưng cũng dễ có những hành động hăng hái, anhhùng như những người tiền sử. Do tham gia vào đám đông mà người ta trở nên kém cỏi hẳn trong hoạt động trí tuệ
- Tình cảm của đám đông bao giờ cũng đơn giản và phấn khích mạnh. Như vậy là đám đông không hề biết đến nghi ngờ và dao động”
- “Đám đông tiến ngay đến chỗ cực đoan nhất, một điều mơ hồ vừa được nói ra lập tức trởthành hiển nhiên, một chút ác cảm mới nhen nhúm bùng ngay thành lòng căm thù hung bạo (trang 186).
- Đám đông đòi hỏi các anh hùng của nó phải có sức mạnh và uy lực. Đám đông muốn bị thống trị, muốn bị đè nén. Nó muốn sợ kẻ thống trị. Đám đông rất bảo thủ, nó khinh bỉ mọi điều mới mẻ và tiến bộ, nó sùng kính tuyệt đối truyền thống.
- Trong khi trí tuệ của đám đông bao giờ cũng thấp hơn trí tuệ của một cá nhân thì về phương diện đạo đức nó có thể: hoặc là cao hơn rất nhiều hoặc là thua xa một cá nhân riêng lẻ.
- Khi đứa trẻ phát triển thành người lớn cá tính của nó trở nên ngày càng thống nhất, thành sự hợp nhất các dục vọng và ước nguyện, đã từng phát triển độc lập với nhau.
- đám đông còn bị mê hoặc bởi ma lực của ngôn từ, ngôn từ có thể tạo ra trong lòng đám đông những cơn bão kinh hoàng cũng như có thể trấn an được nó. “Lí lẽ và sự thuyết phục không thể nào chống lại được một số từ ngữ, một vài công thức có sẵn.
- Ta hãy nghĩ đến các huý kị của người tiền sử và sức mạnh ma thuật mà họ gắn cho danh từ và tên gọi [5] . Sau hết: đám đông không bao giờ khao khát chân lý. Họ đòi hỏi ảo tưởng mà họ không thể nào thoát rađược. Đối với đám đông cái phi thực lại ưu việt hơn cái thực, cái không hiện hữu cũng có ảnh hưởng mạnh như cái hiện hữu. Đám đông có xu hướng không phân biệt giữa có và không
- Chúng tôi đã chứng minh rằng óc tưởng tượng và ảo tưởng quá mức do ham muốn không được thoả mãn là bước khởi đầu quyết định tạo ra các chứng suy nhược thần kinh. Chúng tôi cũng phát hiện ra rằng đối với người bị suy nhược thần kinh thì cái có giá trị không phải là hiện thực khách quan bình thường, mà chính là hiện thực do tâm lí của họ tạo ra. Triệu chứng loạn thần kinh phát sinh chỉ do tưởng tượng chứ không tái tạo một cảm xúc có thật; một cảm tưởng tội lỗi ám ảnh một người nào đó thực ra chỉ căn cứ trên cơ sở một dự định độc ác mà chưa bao giờ được thực hiện. Cũng như trong giấc mơ và thôi miên, trong tâm lí đám đông nguyên tắc thực tiễn bị sức mạnh của các ước muốn phấn khích đẩy xuống hàng thứ yếu.
- Đám đông là một bầy đàn dễ sai khiến và không thể sống thiếu chúa tể. Đám đông khao khát phục tòng đến nỗi nó sẽ theo bản năng mà tuân phục ngay kẻ nào tuyên bố là chúa tể của nó. Nếu đám đông cần một lãnh tụ thì lãnh tụ cũng phải có một số phẩm chất cá nhân phù hợp. Chính hắn phải tin tưởng một cách cuồng nhiệt (vào một lí tưởng) để có thể đánh thức niềm tin ấy trong quần chúng; hắn phải có một ý chí đáng khâm phục để có thể truyền ý chí này cho đám đông nhu nhượcLe Bon gán cho các lí tưởng này cũng như cho các lãnh tụ một sức mạnh vô địch và bí hiểm mà ông gọi là “uy tín”.
- Le Bon gán cho các lí tưởng này cũng như cho các lãnh tụ một sức mạnh vô địch và bí hiểm mà ông gọi là “uy tín”. Uy tín là một dạng thống trị của một cá nhân, một tác phẩm hay một lí tưởng đối với chúng ta. Sự thống trị này làm tê liệt tất cả những khả năng phê phán của cá nhân và làm cho cá nhân chỉ còn biết ngạc nhiên và kính phục. Sự thống trị đó có thể tạo ra những tình cảm giống như khi bị thôi mien
- Đúng là trong lĩnh vực hoạt động trí tuệ thì ta phải nhận rằng những kết quả quan trọng nhất của hoạt động tư tưởng, những phát minh kéo theo hệ quả to lớn, việc giải quyết các vấn đề phức tạp chỉ dành cho các cá nhân làm việc trong môi trường đơn độc. Nhưng linh hồn quần chúng cũng có sức sáng tạo tinh thần to lớn mà minh chứng trước hết là ngôn ngữ, sau nữa là dân ca, folklore… Ngoài ra chúng ta không thể biết có bao nhiêu nhà tư tưởng hay nhà thơ đã từng lấy cảm hứng từ chính đám quần chúng mà họ là thành viên; mà có thể họ chỉ là những người thực hiện cái sự nghiệp mà trong đó đồng thời có cả những người khác tham dự nữa.
- Ý kiến chung của Mc Dougall về hoạt động tâm thần của đám đông đơn giản “vô tổ chức” nghe cũng không thân thiện gì hơn ý kiến của Gustave Le Bon (trang 45): dễ khích động, bồng bột, đam mê, thiếu kiên định, bất nhất, thiếu kiên quyết và rất dễ cực đoan;
- nó dễ bị ám thị, nông nổi trong suy nghĩ, dễ thay đổi ý kiến; nó chỉ chấp nhận những lí lẽ và kết luận đơn giản nhất. Đám đông dễ bị điều khiển và đe dọa, đám đông không có nhận thức về tội lỗi, về lòng tự trọng và trách nhiệm; nhưng do ý thức được sức mạnh của mình, nó sẵn sàng thực hiện mọi tội ác mà chỉ có những lực lượng tuyệt đối vô trách nhiệm cũng như có sức mạnh tuyệt đối mới dám làm. Nghĩa là nó hành động giống như một đứa trẻ thiếu giáo dục hoặc như một tên mọi mê muội được để xổng ra môi trường xa lạ với nó; trong những trường hợp tồi tệ nhất hành động của đám đông giống với hành động của bầy thú hoang chứ không còn là của đám người nữa.
- Ông đưa ra năm “điều kiện cơ bản” để đưa hoạt động tinh thần của đám đông lên một mức cao hơn. Điều kiện căn bản thứ nhất là một mức độ ổn định nhất định trong thành phần đám đông. Sự ổn định này có thể mang tính vật chất hay hình thức; loại thứ nhất là khi có một số người nhất định tham gia vào đám đông trong một thời gian tương đối dài, loại thứ hai là khi trong đám đông có một số vai trò do một số người luân phiên nắm giữ. Điều kiện thứ hai: cá nhân tham gia có một số hiểu biết nhất định về bản chất, chức năng, họat động và đòi hỏi của đám đông và vì vậy mà họ có tình cảm với toàn thể đám đông đó. Điều kiện thứ ba: Đám đông có liên hệ với những đám đông tương tự, nhưng vẫn khác với nó ở một số điểm để tạo ra sự cạnh tranh. Điều kiện thứ tư: đám đông có một số truyền thống, phong tục, định chế áp dụng cho quan hệ giữa các thành viên cấu thành. Điều kiện thứ năm: trong đám đông có sự phân công, thể hiện trong việc phân thành nhóm và chia công việc cho từng người. Khi hội đủ những điều kiện đó thì theo Mc Dougall sẽ tránh được các khiếm khuyết tâm lí của đám đông. Những hạn chế trong hoạt động trí tuệ của đám đông có thể tránh được bằng cách không cho nó giải quyết các vấn đề đòi hỏi trí năng mà sẽ giao việc ấy cho một số cá nhân thành viên.
- xu hướng thành lập đám đông cái sự tiếp tục tạo ra cơ thể đa bào của mọi sinh vật cấp cao.
- Nhưng tôi cũng từng âm thầm chống đối sự ám thị cưỡng ép. Khi người ta gắt với một con bệnh cứng đầu cứng cổ, không bị thôi miên: “Ông làm cái gì vậy? Ông chống cự hả?”, thì tôi tự nhủ rằng đấy là sự bất công, sự cưỡng ép. Dĩ nhiên khi có kẻ định thôi miên người ta, định khuất phục người ta bằng cách đó thì người ta phải có quyền chống lại chứ. Sự chống đối của tôi sau này đi theo xu hướng chống lại việc dùng ám thị để giải thích mọi sự trong khi chính nó lại không được giải thích. Nói đến ám thị tôi thường đọc đoạn thơ hài hước sau đây [6] : «Thánh Christophe đứng đỡ Christ và chúa Christ đứng đỡ thế gian, vậy tôi xin hỏi ông thánh Christophe biết để chân vào đâu mà đứng”.
- Giáo hội và quân đội thực chất là những đám đông nhân tạo, hình thành do bị thúc bách; để bảo đảm cho chúng không bị tan rã và ngăn chặn những thay đổi trong tổ chức của chúng người ta phải áp dụng một số cưỡng bách từ bên ngoài.
- Trong giáo hội (tốt nhất nên chọn giáo hội Công giáo làm mẫu) cũng như trong quân đội (mặc dù hai tổ chức này khác nhau) vẫn tồn tại một niềm tin sai lầm (ảo tưởng) rằng người cầm đầu - trong giáo hội là Jesus-Christ, còn trongquân đội là vị Tổng tư lệnh - yêu thương tất cả các thành viên trong đoàn thể như nhau. Mọi điều khác phụ thuộc vào ảo tưởng này, nếu ảo tưởng này biến mất thì cả quân đội và giáo hội đều tan rã, hoàn cảnh bên ngoài chỉ làm cho việc tan rã xảy ra lâu hay mau hơn mà thôi.
- Khoa học Đức cũng như chủ nghĩa quân phiệt Phổ không biết đến khía cạnh tâm lí chắc chắn đã học được bài học trong cuộc thế chiến vừa qua (Thế chiến I - ND). Như ta biết bệnh suy nhược thần kinh của binh sĩ làm tan rã quân đội Đức chính là lời phản kháng của từng cá nhân đối với vai trò của họ trong quân ngũ và theo báo cáo của E. Simmel [11] thì ta có thể khẳng định rằng nguyên nhân bệnh hoạn chủ yếu của binh sĩ chính là thái độ nhẫn tâm của các cấp chỉ huy.
- Bản chất của đám đông nằm trong các mối liên kết libido hiện hữu bên trong nó có thể được tìm thấy trong hiện tượng hoảng loạn trong quân đội là hiện tượng có lẽ đã được nghiên cứu kĩ nhất. Sự hoảng loạn phát sinh khi có sự tan rã. Đặc điểm chủ yếu của nó là người ta không còn tuân theo mệnh lệnh của cấp chỉ huy nữa, ai cũng chỉ lo cho mình, bỏ mặc người khác. Không còn mối ràng buộc nào nữa, một nỗi hoảng loạn khủng khiếp và vô nghĩa xâm chiếm lòng người.
- Mức độ hiểm nguy không phải là nguyên nhân vì chính đạo quân đang hoảng loạn đó đã từng đương đầu được với những mối hiểm nguy như vậy mà có thể là còn hiểm nguy hơn, và đối với nỗi hoảng loạn thì điều đặc biệt là nó không nằm trong mối tương quan nào với hiểm nguy đang đe dọa cả, thường khi nó xuất hiện chỉ vì những lí do chẳng đáng kể gì. Khi một cá nhân hoảng loạn thì hắn chỉ lo cho bản thân, điều đó chứng tỏ rằng mọi mối liên hệ tình cảm của hắn, những mối liên hệ từng giúp giảm thiểu nỗi sợ hãi, đã chấm dứt. Vì hắn phải một mình, đơn độc, đối diện với hiểm nguy thì dĩ nhiên là hắn phóng đại thêm mối nguy hiểm. Như vậy nghĩa là hoảng loạn xảy ra do sự tan rã cơ cấu libido của đám đông và là phản ứng phải có đối với sự tan rã ấy, chứ không phải ngược lại là những liên hệ libido của đám đông bị tan ra là do hoảng loạn trước hiểm nguy.
- Nguyên cớ điển hình cho việc xuất hiện hoảng loạn rất giống với điều được mô tả trong đoạn văn của Nestroy nhại vở kịch của Hebbel (Judith và Holopherne). Trong đoạn văn này một người lính hô: “Chủ tướng bị chặt đầu rồi”, thế là toàn bộ quân lính Assyrie bỏ chạy. Việc mất người cầm đầu trong bất cứ ý nghĩa nào của từ này, hay sự thất vọng đối với ông ta cũng đều tạo ra hoảng loạn dù rằng nguy hiểm không tăng. Liên kết hỗ tương giữa những cá nhân lập thành đám đông sẽ tan rã cùng với sự tan rã liên kết với người chỉ huy. Đám đông tan rã như tuyết gặp ánh nắng mặt trời.
- Sự tan rã của đám đông tôn giáo khó thấy hơn. Mới đây tôi có được đọc một cuốn tiểu thuyết của Anh về đề tài Công giáo nhan đề Đêm đen (When it was dark) do một giám mục địa hạt London giới thiệu. Theo tôi cuốn tiểu thuyết đã mô tả rất hay và rất đúng khả năng và những hậu quả của sự tan rã của đám đông tôn giáo. Tác giả tưởng tượng ra một hành động dường như xảy ra trong thời hiện tại: có một âm mưu chống lại Jesus-Christ và những lời rao giảng của Ngài. Những kẻ âm mưu phao tin chúng đã tìm thấy ở Jesusalem một hầm mộ, trong đó có một tấm bia nói rằng một người tên là Arimathie thú nhận là ông ta, vì lòng kính Chúa, đã bí mật lấy trộm xác Ngài sau khi Ngài chết được ba ngày và đem giấu ở cái hầm ấy. Bằng cách đó, những kẻ âm mưu đã làm sụp đổ niềm tin vào sự tái sinh và nguồn gốc thần thánh của Jesus-Christ. Vụ phát hiện khảo cổ học ấy đã làm rung chuyển cả nền văn hóa Âu Châu và hậu quả là tội ác và bạo hành gia tăng đến mức báo động. Tình trạng gia tăng tội ác chỉ chấm dứt khi người ta khám phá ra âm mưu của những kẻ giả mạo.
-