Thứ Sáu, 25 tháng 4, 2008

Tương lai của Châu Âu trong kỷ nguyên Toàn Cầu Hoá!


Thứ quyền lực châu Âu cần để lãnh đạo

Tại Diễn đàn Kinh tế thế giới năm nay diễn ra ở Davos, Thụy Sĩ, những lời bàn luận chủ yếu xoay quanh các cường quốc đang nổi lên tại châu Á. Một nhà phân tích về châu Á lập luận rằng tới năm 2050, sẽ có ba cường quốc thế giới: Hoa Kỳ, Trung Quốc và Ấn Độ. Ông ta không hề đề cập tới châu Âu, nhưng đánh giá không đúng mức về sức mạnh của châu Âu là một sai lầm.

Đúng vậy, châu Âu hiện nay chưa phát huy hết thực lực của mình. Nó được chia nhỏ, thanh bình, và mang tính quy chuẩn trong một thế giới của quyền lực cứng, nhưng lại là một phần của thế giới không liên quan tới sức mạnh quân sự. Việc sử dụng vũ lực trong các nền dân chủ công nghiệp tiên tiến là chuyện gần như không thể tưởng tượng nổi. Trong các mối quan hệ của họ "với nhau", những quốc gia này đều đến từ sao Kim (theo lối diễn giải của Robert Kagan), và việc châu Âu đặt trọng tâm vào luật pháp và các thể chế chính là một tài sản quý giá.
Đối với phần còn lại của thế giới, cuộc thăm dò gần đây của Pew cho thấy nhiều người châu Âu mong muốn châu lục mình đóng một vai trò lớn hơn, nhưng để tạo thế cân bằng với sức mạnh quân sự của Mỹ thì cần tới khoản chi phí cho quân sự nhiều gấp đôi hoặc gấp ba, và chỉ một số ít người châu Âu thích thú với sự đầu tư đó. Tuy nhiên, một chiến lược khôn ngoan cho châu Âu sẽ cần tới các khoản đầu tư lớn hơn cho sức mạnh cứng.
Tuy vậy, viễn cảnh của châu Âu không ảm đạm như giả định của những người bi quan. Quyền lực chính là khả năng có được các kết quả như mong muốn, và các nguồn lực sẽ dẫn đến các hành động cụ thể tùy thuộc vào bối cảnh. Về chức năng, quyền lực được phân bổ giống như một bàn cờ ba chiều. Ở mặt phẳng trên cùng là mối quan hệ quân sự giữa các quốc gia, mà Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất của thế giới có khả năng tiếp cận trên toàn cầu. Tại đây thì thế giới là đơn cực.
Ở mặt phẳng giữa là các mối quan hệ kinh tế - nơi mà thế giới thực sự là đa cực. Tại đây, châu Âu đóng vai trò như một liên minh, và các quốc gia khác như Nhật Bản và Trung Quốc đóng các vai trò quan trọng. Mỹ không thể đạt được một thỏa thuận thương mại hoặc dàn xếp được các vụ kiện mà không có sự tán thành của EU. Hoặc lấy một ví dụ khác, châu Âu đã làm được cái việc là gạt Paul Wolfowitz ra khỏi Ngân hàng Thế giới.
Mặt phẳng dưới cùng của bàn cờ bao gồm các mối quan hệ liên quốc gia nằm ngoài tầm kiểm soát của các chính phủ - tất cả mọi thứ từ thuốc phiện cho tới dịch bệnh, cho tới khí hậu thay đổi, cho tới chủ nghĩa khủng bố. Ở mặt phẳng này, quyền lực được phân bổ một cách hỗn loạn giữa các nhân tố phi nhà nước, và cũng không nghĩa lý gì dù gọi thế giới này là đơn cực hay đa cực.
Tại đây, sự hợp tác phi quân sự chặt chẽ là rất quan trọng, mà điều này châu Âu đã làm rất tốt. Thành công của các quốc gia châu Âu trong hàng thế kỷ vượt qua tình trạng thù địch, và sự phát triển của một thị trường nội địa rộng lớn, đã đem lại cho họ sức mạnh mềm rất lớn. Tại thời điểm kết thúc chiến tranh lạnh, các nước Đông Âu không cố gắng hình thành nên các đồng minh trong khu vực như họ đã làm vào những năm 20, nhưng lại hướng tới Brussels để bảo vệ tương lai của mình. Tương tự, các quốc gia như Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraina đã điều chỉnh các chính sách của họ để đáp lại sức hấp dẫn của họ đối với châu Âu.
Gần đây, Hội đồng tình báo quốc gia của Hoa Kỳ đã công bố 4 viễn cảnh rất khác nhau cho thế giới trong năm 2020: 1) Thế giới Davos mà ở đó toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục diễn ra, nhưng với nhiều gương mặt châu Á hơn; 2) Hòa bình theo kiểu Mỹ, nơi mà Mỹ tiếp tục thống trị trật tự toàn cầu; 3) Nhà nước mới của thế giới Hồi giáo, nơi mà sự đồng nhất tôn giáo của Hồi giáo thách thức sự thống trị của các tiêu chuẩn phương Tây; và 4) Chu trình của Nỗi sợ hãi mà trong đó, các lực lượng phi chính phủ gây nên những nỗi kinh hoàng đối với nền an ninh, tạo nên các xã hội đặc biệt Owell (Orwell hàm ý những niềm tin trái ngược: “chiến tranh là hòa bình”, “tự do là nô lệ”; và “ngu dốt là sức mạnh”). Giống như bất kỳ các nghiên cứu nào về tương lai, những viễn cảnh trên đều có các giới hạn của chúng, nhưng chúng giúp chúng ta đặt ra câu hỏi là ba hay bốn nhân tố chính trị chính sẽ góp phần định hướng nên kết quả cuối cùng.
Trước tiên là sự nổi lên của châu Á. Câu hỏi lớn sẽ là Trung Quốc và sự phát triển nội lực của họ. Trung Quốc đã đưa 400 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo từ năm 1990, nhưng vẫn còn 400 triệu người nữa đang sống với dưới 2USD mỗi ngày. Nếu hiện trạng chính trị ở Trung Quốc thay đổi, vai trò của quốc gia này trên thế giới cũng sẽ thay đổi: hoặc họ sẽ có một chính sách đối ngoại hiếu chiến hơn và không sẵn lòng đối phó với những vấn đề như thay đổi khí hậu, hoặc họ sẽ có thể xử lý các vấn đề của mình và trở thành một "cổ đông đầy trách nhiệm" trong nền chính trị thế giới.
Châu Âu có thể góp phần đáng kể đối với sự hòa nhập của Trung Quốc vào các quy tắc và thể chế toàn cầu. Nói chung, châu Âu và Mỹ sợ một Trung Quốc yếu kém hơn là một Trung Quốc sung sức.
Chính trị Hồi giáo và cách thức phát triển của nó sẽ là nhân tố thứ hai. Cuộc chiến chống lại chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo cực đoan không phải là một "sự va chạm giữa các nền văn minh", mà là một cuộc nội chiến trong chính tôn giáo này. Một thiểu số có quan điểm cực đoan đang sử dụng vũ lực để áp đặt một thế hệ đơn giản hóa và mang tính chất ý thức hệ lên một xu hướng chủ đạo có nhiều cách nhìn khác nhau.
Trong khi số đông nhất những người Hồi giáo lại sống tại châu Á, họ bị tác động bởi tâm điểm của cuộc chiến này tại Trung Đông - khu vực bị tụt lại phía sau cả thế giới trong toàn cầu hóa, mở cửa, xây dựng thể chế và dân chủ hóa. Tại đây, sức mạnh kinh tế và quyền lực mềm của châu Âu cần đóng góp rất nhiều. Thương mại cởi mở hơn, tăng trưởng kinh tế, giáo dục, phát triển các thể chế xã hội dân sự, và những bước tiến dần dần về chính trị có thể giúp củng cố xu hướng chủ đạo này vượt qua thời điểm khó khăn, như cách người Hồi giáo đang được đối xử tại châu Âu và Mỹ. Điều quan trọng không kém là các chính sách của phương Tây đối với Trung Đông sẽ thỏa mãn những người Hồi giáo theo xu hướng chủ đạo, hay sẽ tiếp sức cho việc tuyên tuyền của những người cực đoan về một cuộc chiến chống lại Hồi giáo.
Yếu tố quyết định thứ ba chính là quyền lực của nước Mỹ và cách thức nước Mỹ sử dụng quyền lực đó. Mỹ sẽ vẫn là quốc gia quyền lực nhất trong năm 2020, nhưng, nghịch lý là, nhà nước lớn mạnh nhất kể từ thời La Mã sẽ không đủ khả năng bảo vệ chính các công dân của mình.
Sức mạnh quân sự của Mỹ không đủ để đối phó với các nguy cơ như bệnh dịch toàn cầu, khí hậu thay đổi, chủ nghĩa khủng bố và tội phạm quốc tế. Những vấn đề này cần tới sự hợp tác trong việc cung cấp các sản phẩm công cộng trên toàn cầu và quyền lực mềm trong việc thu hút sự hỗ trợ. Trên thế giới, không có nơi nào có thể chia sẻ nhiều giá trị hơn hay có khả năng tác động nhiều hơn tới quan điểm và quyền lực của Mỹ như châu Âu. Điều đó dẫn tới giả thuyết rằng nhân tố chính trị thứ tư mang tính quyết định trong tương lai sẽ là sự phát triển của các chính sách và quyền
lực của châu Âu.
Joseph NyeTheo Project SyndicateThu Lượng dịch
Bình loạn về "Tương lai của Châu âu"!
Tương lai của Châu Âu
Đã có không ít những học giả nghiên cứu, phân tích để đưa ra một viễn cảnh của châu lục này trong vòng vài thập kỷ tới - tuy nhiên có không mấy những nghiên cứu "vẽ" nên được một viễn cảnh "sáng sủa & và huy hoàng" cho châu lục này-Bởi những "yếu điểm cố hữu" của lục địa này!
Xin có một bài viết ngắn - tranh luận với quan điểm của bài báo trên!.....
Chúng ta không còn lạ lẫm - khi người ta gọi Châu Âu là "lục địa già nua"! Và xin được tập trung phân tích rõ, sự "già nua" của một Châu lục "chưa bao giờ" suy giảm ảnh hưởng của mình với thế giới - trong suốt lịch sử hình thành và phát triển của mình - thế nhưng - hiện tại thì nó đang "mất dần" vị thế của mình bởi rất nhiều lý do sau đây:..
Đầu tiên - hoàn toàn đồng ý với tác giả về việc "Châu Âu - với những luật lệ" - quả thật - không mấy nơi trên thế giới, có được một hệ thống pháp luật và quy chuẩn đầy đủ, hoàn thiện và to lớn như châu lục này.
Điều đó - hẳn nhiên là có lợi cho việc phát triển của một thị trường tự do, minh bạch - một xã hội dân chủ - công bằng!
Tuy nhiên - cũng chính sự hoàn thiện - lại dẫn đến những "cứng nhắc" về thể chế - và sự cứng nhắc này lại càng trở lên rõ rệt khi cần đến sự đồng thuận của cả khối cho một chính sách mới như hiện nay!
Điều đó - khiến châu lục này phản ứng khá "chậm chạp" với những biến đổi không ngừng của thời cuộc!
Việc những nhà điều hành - những nhà lập pháp có trong tay một quyền hạn nhất định để có thể "rảnh tay" đối phó với những vấn đề mới, những thách thức mới - vốn là thế mạnh của những nước có một nền chính trị "đồng thuận cao" thì gần như "không tưởng" ở Châu Âu! ...
Trong điều kiện bình thường - thì những điều đó - không bộc lộ quá nhiều vấn đề - nhưng trong những hoàn cảnh cấp bách, hay khi cần có một sự "hy sinh" nào đó từ cách thành viên, một nhóm người (sẽ phân tích ở phần sau) thì điều đó thực sự trở thành một vấn đề nan giải, nó cản trở các nhà lãnh đạo trong việc đưa ra một chính sách nhanh chóng nhất, "có lợi" cho cả khối nhất!..
Điều thứ 2 phải nhắc tới - đó chính là sự "già nua" trong tư tưởng của người dân Châu Âu! Có một điểm mà nhà phân tích ở trên đã nhắc đến - đó là không mấy người dân Châu âu chấp nhận - khối này tăng chi tiêu cho quân sự chẳng hạn.
Đây là một ví dụ, mà nếu dẫn ra phân tích, nó đã ảnh hưởng đến rất nhiều "chính sách cốt lõi" của Châu âu.
Việc không chịu chi tiêu cho quân sự - đã buộc châu lục này phải lựa chọn "giải pháp" là dựa vào sự đảm bảo an ninh của Mỹ hay các khối quân sự chung!
Và chính điều đó đã dẫn tới quyết định chấp nhận cho Mỹ triển khai "lá chắn tên lửa" tại Châu âu! Chưa biết hiệu quả về mặt an ninh của "tấm lá chắn" này cho Châu âu đến đâu - nhưng chúng ta thấy rõ rằng - một thời gian dài trước đây, Châu âu kiên quyết không cho Mỹ triển khai hệ thống này bởi nguy cơ sẽ biến cả châu lục này thành "bãi chiến trường" nếu "không may" nổ ra chiến tranh giữa Mỹ và một thế lực khác! Thì nay - chấp nhận nguy cơ trở thành "võ đài" trong chiến tranh - châu âu đã chấp nhận điều đó...
Thái độ ấy "chưa chắc" đã phải là "chủ ý" của các nhà lãnh đạo "kỳ cựu" của châu âu mà đó là sức ép do "quan điểm chung" của người dân châu âu mang lại!
Và cái quan điểm ấy - tiếp tục "đẩy" châu âu "lún sâu" vào suy giảm ở lĩnh vực thứ 2 - mang tính chất quyết định đến "thế và lực" của châu lục này trong tương lai - Lĩnh vực Kinh Tế!
Dân số già nua là một trong những trở ngại "dài hơi" của Châu âu - nhưng ngay cả những người trẻ - cũng có những "vấn đề" không kém phần "nghiêm trọng" trong tư tưởng của họ!
Những người trẻ tuổi ở châu âu "dường như" làm người ta nghĩ họ "không mấy" quan tâm đến chính trị! Nói chính trị thì to tát quá - đơn giản là có rất nhiều người trẻ "không đề cao" hay "không ý thức" đến vai trò mà Châu âu "cần" hay "có thể đóng góp" cho thế giới trong tương lai!.
. Ngay cả với những vấn đề cấp bách của khu vực - họ vẫn tỏ thái độ hết sức thờ ơ! Nhưng ngược lại, khi quyền lợi bị "xâm phạm" thì họ lại có những hành động "quá khích" làm người ta "bất ngờ"!
Lấy dẫn chứng chính là tại Pháp! Vấn đề lao động của nước này - nổi cộm 2 vấn đề "nghiêm trọng" đó là, để tiếp tục duy trì nguồn lao động trong khi dân số giảm, họ cần phải "nới rộng" cánh cửa cho người nhập cư; đồng thời, với chi phí "đắt đỏ" phải bỏ ra cho người lao động trong nước - chẳng khác nào "xua đuổi" các doanh nghiệp, xua đuổi nguồn vốn đầu tư ra khỏi những lĩnh vực "thiếu tính cạnh tranh" trong nền kt Pháp - đáng lo ngại là xu hướng ấy đang "không ngừng mở rộng" ra khắp các lĩnh vực của nền kinh tế - tất yếu người ta phải nghĩ đến kế hoạch phải "cắt giảm chi phí" ở những nơi "có thể" - và một trong những chi tiêu ấy - chính là chế độ an sinh cho người lao động. Người ta đều hiểu rằng, nếu không "mau chóng" có những quyết định "mạnh mẽ" thì trong tương lai không xa - nước Pháp sẽ "tiến vào" một cuộc "suy thoái báo trước" không kém phần "khốc liệt"!
Nhưng người dân thì "lại không chịu hiểu điều đó" - họ phản ứng gay gắt với chính sách cho người nhập cư, những điều chỉnh về chế độ bảo hiểm, hưu trí mà chính phủ tuyên bố là "kiên quyết thực hiện" để tránh đẩy nước pháp vào sự suy yếu đoán biết trước...
điều đó cũng "dễ hiểu" nhưng không "dễ hiểu" chút nào khi phản ứng của người lao động "đến độ" một chính trị gia ưu tú (người đã kiên quyết thực hiện chính sách này) phải ra đi - hay việc chính phủ cho "ngừng vô thời hạn" những kế hoạch này!...
Đó chính là những "trở ngại" mà bất kì nhà lãnh đạo châu âu nào cũng phải "tính đến" khi ra một chính sách - kể cả có lợi cho cả khu vực! Họ phải cân nhắc tới "lợi ích" của "chính mình" khi đưa ra chính sách này.. điều này làm ta liên tưởng đến sự tương đồng với những chính trị gia tại Mỹ..
Quay trở lại với 3 yếu tố sẽ quyết định "bô mặt" của thế giới trong vài thập kỉ tới, và suy ngẫm xem - Châu âu - sẽ đóng vai trò nào trong thế giới ấy?
Ta không "lạm bàn" về 3 yếu tố đó, chỉ tập trung phân tích - liệu có hay không một ảnh hưởng mang tính quyết định từ châu âu, và nếu có - ảnh hưởng đó là gì?
Không thể phủ nhận - vai trò to lớn của châu âu với những "kế hoạch toàn cầu" về nhân đạo, về môi trường trong hiện tại, nhưng trong tương lai - thì không dễ để nói trước, ta sẽ "bám sát" vào những luận điểm mà tác giả coi là "nguyên cớ" khẳng định vai trò của Châu âu để cùng phân tích:
-Đầu tiên, là việc trong hiện tại Châu âu có rất nhiều ảnh hưởng "phi quân sự" tại Trung Đông - một khu vực "cực kì bất ổn" của thế giới!..
Thật khó có thể đánh giá tác động của Châu âu tới khu vực này bằng các "quyền lực mềm" của họ!..
Chỉ có thể đồng ý rằng Trung Đông - quả thật là "nỗi lo ngại" của toàn thế giới hơn là sự "lo sợ"!
Người ta có lo ngại về những "đức tin" sai lầm của rất nhiều thế lực trong khu vực - bởi nó ảnh hưởng đến an ninh toàn cầu - chứ không phải bởi họ là đầu tầu kinh tế - là trung tâm hay là động lực phát triển của TG - chỉ trừ một thứ!...Dầu mỏ!!
Trong hiện tại - họ quan trong bởi cái thứ "trời cho" của họ - nhưng chỉ bởi thứ đó mà thôi!
Họ chỉ quan trọng - một khi thế giới còn cần dầu mỏ hay còn cần tiền bán dầu mỏ của họ để đầu tư....
Nhưng với cái giá "thắt cổ" hiện nay - không còn nghi ngờ là sẽ thúc đẩy cuộc "cách mạng mới" trong khoa học kỹ thuật - CÁCH MẠNG VỀ NHIÊN LIỆU!
Tất yếu thế giới sẽ phải tập trung cho điều đó! Và Trung đông hẳn sẽ "sững sờ" tới mức nào khi mà một thành tựu trong khoa học - mà nhân loại đang chờ đón - sẽ xoá bỏ hoàn toàn sự "không thể thay thế" của họ "với thế giới"!..
Ông Bush muốn "tiêu diệt" tận gốc rễ của những "lệch lạc về đường lối" những "tiềm lực" của chiến tranh, của xung đột, của khủng bố bằng "vũ lực" - thì đâu đó trên khắp thế giới này - có lẽ đến hàng nghìn nhà khoa học đang ngày đêm theo đuổi một loại "vũ khí mềm" sẽ "chặn đứng" gốc rễ "tiềm lực" của những "thế lực lệch lạc" kia - đó chính là "nhiên liệu"!!
Giá mà ông Bush hiểu rằng - mỗi viên đạn mà kẻ khủng bố bắn ra, nhữgn cỗ máy chiến tranh hiện đại, hay thậm chí - cả tiền đổ vào những dự án hạt nhân mang tính huỷ diệt ấy đều được "đẻ ra" từ dầu mỏ! Cả thế giới đang "hà hơi - tiếp sức" cho những thế lực "mang lại sự bất ổn" cho loài người!
Và thay vì chiến tranh - có lẽ đã đến lúc - nước Mỹ dồn sức cho những dự án nghiên cứu quy mô về nguyên liệu thay thế - và trong hiện tại - có lẽ không chỉ Mỹ mà hàng trăm quốc gia khác - đang không ngừng thúc đẩy cho điều đó! Khủng bố - giết chóc - có thể bào chữa bởi "đức tin sai lạc" bởi đói nghèo - nhưng những đồng tiền được tạo ra bởi giá dầu mỏ "cắt cổ" - đẩy hàng triệu nông dân vào cảnh khốn cùng - đẩy thế giới vào cơn bão giá - mà chưa có kế hoạch khả dĩ để dập tắt - các nước phát triển thì co cụm "tự cứu mình" - đẩy người nghèo khắp thế giới ra đối mặt với cơn bão khốc liệt - và những đồng tiền đó lại "nạp đạn" cho tên lửa, cho máy bay - hay thậm trí cả "bom hạt nhân" - để rồi - thế giới lại phải "nạp đạn" tương ứng để "phòng thủ" hay tệ hơn "đánh phủ đầu" - thì đó thực sự là một tội ác! Tội ác với nhân loại mà không thể có bất kì một lý do nào có thể bào chữa - kể cả đức tin!..
Quay lại với Châu âu - những ảnh hưởng địa chính trị của họ thì rõ ràng đang "ngày một lu mờ" - ngược lại với nó là một sự đồng thuận "ngày càng cao" của khu vực này với Mỹ về rất nhiều các lĩnh vực!
Kinh tế suy giảm, ảnh hưởng bị thu hẹp, quân sự thì "thua kém", đồng thời lại có vô vàn những khó khăn từ chính "nội tại", và biểu hiện gần đây nhất là xu hướng lên giá không ngừng của đồng tiền khu vực này với "phần còn lại của thế giới" - càng khiến cho người ta lo ngại về viễn cảnh kinh tế của Châu Âu! Rất khó - để có thể khẳng định - Châu âu trong tương lai sẽ đóng góp một vị thế quan trọng "không thể thiếu" với thế giới!
http://www.lanhdao.net/leadership/home.aspx?catid=19&msgid=12604

Thứ Hai, 25 tháng 2, 2008




Sự đạo đức giả trong tài chính

Thế giới đang phải đối mặt với một giai đoạn bất ổn về tài chính, đặc biệt là sự suy thoái của nền kinh tế Mỹ. Giáo sư Joseph E. Stiglitz - người từng đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2001 - cho rằng: một nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng trên chính là kiến trúc tài chính toàn cầu vẫn chưa hề có sự cải cách nào về mặt nền tảng trong suốt 10 năm qua (kể từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997). Lanhdao.net xin giới thiệu bài viết của Giáo sư Joseph E. Stiglitz. Toàn bộ quan điểm trong bài là của tác giả.

Giáo sư Joseph E. Stiglitz phát biểu trong một cuộc họp báo tại Hà Nội vào ngày 27/11/2004, một phần trong chuyến thăm 10 ngày tại Việt Nam để gặp gỡ các quan chức chính phủ, các nhà nghiên cứu, các nhà tài trợ nước ngoài và có các buổi diễn thuyết trước công chúng. Ảnh: Corbis
Năm 2007 đánh dấu 10 năm cuộc khủng hoảng Đông Á, bắt đầu từ Thái Lan vào ngày 2/7/1997, lan rộng sang Indonesia vào tháng 10 và sang Hàn Quốc vào tháng 12. Rốt cuộc, nó trở thành một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, kéo thêm cả Nga và các nước Mỹ Latinh như Brazil, và nhiều nước khác phải mệt mỏi trong nhiều năm tiếp theo: Argentina năm 2001 có thể được kể đến như là một trong các nạn nhân của nó.
Đã có rất nhiều các nạn nhân vô tội khác, bao gồm cả các quốc gia thậm chí không tham gia vào các dòng vốn quốc tế nhưng vẫn bị chìm sâu vào khủng hoảng. Thực tế, Lào cũng nằm trong số những quốc gia bị ảnh hưởng tồi tệ nhất. Mặc dù cuối cùng thì cuộc khủng hoảng nào cũng kết thúc, nhưng lúc đó không ai biết được các kỳ suy thoái và trì trệ tiếp theo sẽ còn sâu rộng và kéo dài bao lâu. Đó là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ sau cuộc Đại suy thoái.
Là Giám đốc kinh tế và Phó Chủ tịch cấp cao của Ngân hàng Thế giới, tôi đã đứng giữa sự xung đột và các cuộc tranh luận về nguyên nhân và những cách ứng phó về mặt chính sách sao cho phù hợp. Mùa hè và mùa thu năm 2007, tôi đã đi thăm lại các quốc gia bị ảnh hưởng, gồm Malaysia, Lào, Thái Lan và Indonesia. Thật ấm lòng khi chứng kiến sự phục hồi của họ. Các nước này giờ đang tăng trưởng với tốc độ 5% hoặc 6% hoặc hơn thế - không được nhanh như trong những ngày thần kỳ Đông Á, nhưng nhanh hơn rất nhiều so với những gì mà mọi người có thể tưởng sau khi khủng hoảng xảy ra.
Nhiều nước đã thay đổi chính sách của mình, nhưng rõ ràng là theo những hướng khác biệt so với những cải tổ mà IMF yêu cầu. Người nghèo nằm trong số những người phải chịu gánh nặng nhất của cuộc khủng hoảng, khi mà tiền lương tụt hẳn xuống còn tỉ lệ thất nghiệp lại vọt lên. Khi các nước này phục hồi, nhiều nước đã tập trung nhấn mạnh vào "tính hài hòa", trong một nỗ lực khắc phục khoảng cách ngày càng tăng giữa người giàu và người nghèo, giữa nông thôn và thành thị. Họ coi trọng hơn việc đầu tư vào con người, khởi động các sáng kiến để nhiều công dân có thể được chăm sóc sức khỏe và tiếp cận tài chính hơn, và tạo nên các quỹ xã hội để giúp phát triển các cộng đồng địa phương.
Nhìn lại cuộc khủng hoảng sau một thập kỷ, chúng ta có thể nhìn thấy rất rõ ràng IMF và Bộ Tài chính của Mỹ đã chuẩn đoán, kê đơn và tiên lượng sai lầm như thế nào. Vấn đề cơ bản chính là sự tự do hóa thị trường vốn còn non nớt. Bởi vậy, thật là mỉa mai khi nhìn thấy Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ một lần nữa lại thúc đẩy việc tự do hóa thị trường vốn tại Ấn Độ - một trong hai nước lớn đang phát triển (cùng với Trung Quốc) nổi lên mà không bị tổn hại từ cuộc khủng hoảng năm 1997.
Không phải ngẫu nhiên mà các quốc gia không tự do hóa hoàn toàn các thị trường vốn lại có thể vận hành rất tốt. Nghiên cứu sau đó do IMF tiến hành đã xác minh được điều mà bất kỳ nghiên cứu nghiêm túc nào cũng thấy: tự do hóa thị trường vốn đem lại sự bất ổn, nhưng không tất yếu tăng trưởng. (Cũng trong nghiên cứu tương tự cho thấy: Ấn Độ và Trung Quốc đã trở thành những nền kinh tế phát triển nhanh nhất)
Tất nhiên, Phố Wall (nơi các lợi nhuận của nó là hiện thân cho Bộ Tài chính Mỹ) thu lợi từ việc tự do hóa thị trường vốn: họ kiếm tiền khi các dòng vốn chảy vào, khi các dòng vốn chảy ra, và trong việc tái cơ cấu do hậu quả của sự tàn phá. Tại Hàn Quốc, IMF thúc giục bán các ngân hàng của nước này cho các nhà đầu tư Mỹ, ngay cả khi người Hàn Quốc đã điều hành nền kinh tế của chính họ một cách ấn tượng trong suốt bốn thập kỷ, với tốc độ tăng trưởng cao hơn, bền vững hơn, và không hề có các bê bối do cơ chế vẫn xuất hiện thường xuyên trong các thị trường tài chính của Mỹ.
Trong nhiều trường hợp, các công ty của Mỹ đã mua các ngân hàng, nắm giữ các ngân hàng đó cho tới khi Hàn Quốc phục hồi, và sau đó bán lại chúng, thu về hàng tỉ tiền lãi. Trong khi vội vã để các phương Tây mua các ngân hàng, IMF đã bỏ quên một chi tiết: phải đảm bảo rằng Hàn Quốc có thể giữ lại được ít nhất một phần nhỏ của số lãi kia thông qua hệ thống thuế. Việc các nhà đầu tư Mỹ có sự tinh thông hơn trong lĩnh vực ngân hàng tại các thị trường mới nổi hay không có thể vẫn còn phải bàn cãi, nhưng việc họ có sự tinh thông hơn trong việc tránh thuế thì không cần thắc mắc.
Sự mâu thuẫn giữa lời khuyên của IMF/ Bộ tài chính Mỹ với Đông Á và những gì đã xảy ra trong thất bại cho vay tín dụng là hiển nhiên. Các nước Đông Á đã được yêu cầu nâng cao lãi suất, trong một số trường hợp tăng tới 25%, 40% hoặc cao hơn, gây nên sự vỡ nợ trên diện rộng. Trong cuộc khủng hoảng hiện nay, Cục dự trữ liên bang Mỹ và Ngân hàng trung ương châu Âu lại cắt giảm lãi suất.
Tương tự như vậy, các quốc gia bị mắc vào cuộc khủng hoảng tại Đông Á được nghe diễn thuyết về nhu cầu minh bạch hơn nữa và điều chỉnh tốt hơn nữa. Nhưng việc thiếu minh bạch lại đóng một vai trò trung tâm trong việc gặm nhấm tín dụng hồi mùa hè năm 2006, các khoản thế chấp bị sắt lát và thái nhỏ, rải ra khắp thế giới, đóng gói cùng với các sản phẩm tốt hơn, và giấu nhẹm đi như đồ ký quỹ, do đó chẳng ai biết rõ là người nào đang cầm trong tay cái gì. Và giờ đây lại có một màn hợp xướng cảnh báo về những sự điều chỉnh mới - những thứ được cho là cản trở thị trường tài chính (bao gồm cả sự khai thác từ chính những người vay tiền ngờ nghệch của họ - điều nằm trong gốc rễ của vấn đề). Cuối cùng, bất chấp mọi lời cảnh báo về xuống cấp đạo đức, các ngân hàng phương Tây vẫn phần nào được "tại ngoại" khỏi những vụ đầu tư xấu của họ.
Sau cuộc khủng hoảng năm 1997, có một sự nhất trí rằng cần có sự cải cách căn bản đối với kiến trúc tài chính toàn cầu. Nhưng, trong khi hệ thống hiện hành có thể dẫn tới sự bất ổn không cần thiết và áp đặt các mức chi phí khổng lồ lên các nước đang phát triển, nó vẫn tạo ra lợi nhuận đáng kể. Thế nên không có gì ngạc nhiên nếu sau 10 năm nữa vẫn không có một cải cách căn bản nào. Và vì thế, cũng không ngạc nhiên rằng thế giới một lần nữa lại phải đối mặt với một giai đoạn bất ổn tài chính toàn cầu, với những hậu quả còn chưa rõ ràng cho các nền kinh tế trên thế giới.
Joseph E. Stiglitz Theo Project - Syndicate Thu Lượng dịch
* Joseph E. Stiglitz - người từng giành giải Nobel Kinh tế năm 2001, Giáo sư Kinh tế thuộc Đại học Columbia (Mỹ), từng giữ chức Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế của cựu Tổng thống Bill Clinton, Giám đốc Kinh tế và Phó Chủ tịch cấp cao của Ngân hàng Thế giới.


Bình loạn tí chơi!!


Một bài báo rất tuyệt! Tuyệt vời bởi thời điểm nó được đăng và cả vấn đề mà nó "bàn luận" : CƠ CẤU TÀI CHÍNH TOÀN CẦU!
Nó đã từng là chủ đề "nóng bỏng" cách đây 10 năm, nhưng hôm nay, trên đất nước này, có lẽ chúng ta cần phân tích một cách "nghiêm túc" và "chín chắn" như một người trong cuộc - bởi vị trí của chúng ta đã khác nhiều so với 10 năm trước!
Có nhiều nhà phân tích, chỉ trước đây vài năm, nhân định về tình hình kt tg "trời nhiều mây, và có thể xảy ra bão" - thì thời điểm hiện tại có lẽ cơn bão đã "thành hình" - vấn đề là ở chỗ - cơn bão ấy sẽ quét qua những đâu, và để lại hậu quả như thế nào? Và một nhà khí tượng, thì hiểu răng, cơn bão ấy sẽ mạnh nên hay yếu đi, tùy thuộc vào "thời tiết" của những khu vực nó đi qua...
Vâng! Tôi đang nói đến một "cơn bão tài chính" đang hiển hiện!!... Có lẽ cách phân tích tốt nhất, là ta nên làm một phép so sánh, hiện tại - và quá khứ (cách đây 10 năm) để có thể rút ra kết luận, đồng tình - hay phản đối với những phân tích của Giáo sư Joseph E. Stiglitz ở trên!!..
Năm 97, có nhiều nền kinh tế, được coi là "nạn nhân" của cuộc khủng hoảng TC, nhưng, không giống GS nói, nhưng nền kinh tế đó - "Không vô tội"! Người ta thích (và dễ dàng hơn) nếu đổ tội cho IMF, cho Mỹ về những thảm họa mà họ phải gánh chịu - họ tìm kiếm một "kẻ tội đồ" để đổ vấy mọi trách nhiệm, để chứng minh, họ hoàn toàn trong sạch, thánh thiện, vô tội và đáng thương! Họ cần một ai đó chịu trách nhiệm trước người dân của họ, và còn ai dễ hơn là đổ tội cho IMF.
IMF đã có những đánh giá "tệ hại" ngay trước khủng hoảng về chỉ số tài chính của các con hổ Đông Á - tuy nhiên chính sách của họ áp dụng tại đây, thì chưa hẳn đã "hoàn toàn sai" hay không mang lại hiệu quả!
Liệu có ai đó chấp nhận rằng, cái sai lớn hơn nhiều, cái sai trực tiếp dẫn đến khủng hoảng là cách những con rồng, con hổ Đông Á xử dụng nguồn tài chính đầu tư vào nước họ?? IMF không bảo các tổ chức tín dụng dùng vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn, không bảo họ bơm tiền "mù quáng" vào cái bong bóng chứng khoán, bong bóng bds, càng không bắt buộc các nước cố định tỉ giá gắn chặt vào đồng $ - họ làm thế - là vị những mục đích của riêng họ.
Chính phủ sở tại muốn có những chỉ số "ấn tượng - đẹp mắt", cố định tỷ giá để người ta "bơm" thêm tiền cho họ, "mắt nhắm - mắt mở" bảo lãnh cho ngân hàng, cho doanh nghiệp quốc doanh, chẳng hề có động thái, thậm chí "vui sướng" khi người dân - "điên cuồng" lao vào những trái bong bóng phình to chưa từng thấy trong lịch sử!!...
Cuối cùng, người ta "chửi rủa" giới đầu tư(cả đầu cơ) là những con "quỷ hút máu" khi tấn công đồng nội tệ của họ, siết nợ ngân hàng của họ, bóp chết nền tài chính của họ, rồi cuối cùng - thu mua những "mảnh vỡ" đầy "béo bở" của đống đổ nát ấy... sau vài năm - bán lại với số lợi nhuận hàng tỷ $.
Vâng! Người ta chỉ nhìn thấy như thế - những kẻ xấu xa! vô lương tâm. Nhưng mà họ hãy khách quan mà nhìn nhận - kẻ nào đã khơi mào cho cuộc tấn công ấy?
Không phải là giới đầu cơ trong nước sao?
Và rút cục thì ai đã tạo điều kiện cho họ làm việc ấy?
Không phải là sự "tham lam + ngu ngốc + mù quáng" của rất nhiều người - thậm chí của cả chính phủ hay sao?
Đằng sau hàng tỷ đô lợi nhuận - là muôn vàn rủi ro, là suy tính, cân nhắc và cao hơn - là trí tuệ! Ở đây - không phải là vấn đề đạo đức - mà họ chỉ "nương theo" quy luật : QUY LUẬT NHÂN QUẢ! ..
Quay trở lại câu chuyện về IMF, người ta trách móc, căm phẫn khi IMF không có những động thái mạnh mẽ hơn để "cứu vớt" Đông Á, cứu vớt Ashentina, Nga hay Mỹ la tinh - những người vẫn tự nhận - là luôn làm theo những tư vấn từ IMF. Để đến nỗi Đông Á tan hoang, Mỹ la tinh suy sụp, Ashentina phá sản, Nga "quỵt tiền" của nhà đầu tư - đến nỗi cả những quỹ lớn nhất của Mỹ như Long-Term Capital của đứng trước bờ vực phá sản - Chính phủ Mỹ phải điều đình với giới tài chính để tránh một cuộc sụp đổ tàn khốc cho những doanh nghiệp mà nó đang nắm giữ cổ phiếu!...
Vâng - IMF hay nước Mỹ - họ cũng cần giữ "cái đầu" của mình trước, $ đâu phải được in vô tội vạ? $ chảy từ nước Mỹ hay từ IMF - chính là mạch máu liên quan đến thịnh - suy của chính nước Mỹ - vì lý do gì - "máu" phải đổ vào để chữa cháy cho sự tham lam tại Đông Á, sự trì trệ & kém hiệu quả của nước Nga?...
Còn cái động thái - mà IMF khuyên các nước tăng lãi suất - trong khi hiện tại Mỹ và Châu Âu đang làm ngược lại - thì "hoàn toàn có thể hiểu được"!
Vị thế của các con rồng - hổ Đông Á khác với Mỹ hay EU. tăng lãi suất là để chặn đứng cái bơm đang bơm hơi vào bong bóng, chặn đứng (nói đúng hơn là đặt những kẻ tấn công vào đồng nội tệ trước một quyết định hết sức khó khăn, nếu tấn công thất bại, tỷ giá không đổi - giới đầu cơ sẽ đứng trước sự thua lỗ thảm hại khi phải trả lãi suất cao vì để tấn công vào nội tệ - họ chuyển từ $ sang tiền của địa phương).
Và có lẽ mọi việc sẽ không bi đát đến thế, nếu dự trữ ngoại tệ của các nước này "khá khẩm" hơn, đủ để cho "lời khuyên" từ IMF phát huy được "chút ít" hiệu quả! Nhưng - lại một lần nữa - vì hàng trăm lý do, hàng ngàn lời bào chữa, với lượng dự trữ ít ỏi - họ cuối cùng cũng buông xuôi tỷ giá - đồng thời, lãi xuất của họ - cũng bóp chết nốt những thực thể tài chính yếu ớt của họ!...
Vâng! Còn sao EU và Mỹ lại sử dụng câu thần chú "cắt giảm lãi suất" mỗi khi đứng trước nguy cơ suy thoái (thậm trí kể cả khi họ biết đang có một cái bơm - không ngừng bơm vào những cái bong bóng của họ).
Họ làm thế - để kích cầu - bởi vì sao ư? họ chính là những kẻ tiêu dùng quan trọng nhất, hào phóng nhất của TG. TG có thể không có một khu sản xuất như Đông Á, Nga, Mỹ latinh.. nhưng không thể thiếu một kẻ tiêu dùng lớn đến vậy - hắn không được phép "chết" - nếu hắn chết - tất cả cùng chết - Fed biết điều đó - còn người dân Mỹ thì chưa chắc!
Và thế là - mỗi khi suy thoái Fed tìm mọi cách thúc dục người dân Mỹ - thay vì "thắt lưng buộc bụng" hãy mở hầu bao hào phóng hơn! Tiêu dùng - là yêu nước! Họ giảm thuế, hoàn thuế, cho vay... VÀ vâng - tất nhiên - tiền không từ trên trời rơi xuống - và sự hào phóng "mù quáng" sẽ rất có thể khiến nhiều người phải trả giá đắt!..
Nhưng người Mỹ trả giá đến đâu - thì ta chưa biết - còn số phận của những con người "cùng khổ" tại Thái Lan, mỹ Latinh, Hàn Quốc...thì hiển hiện, cả những người đã từng giầu có, cả những doanh nghiệp đã từng thành công, cả những kẻ đã từng chiến thắng, từng kiêu ngạo & ảo tưởng - về tương lai...Những bài học đắt giá, và cay đắng - đáng tiếc là mấy ai trong chúng ta đã học được nó? Không nên phân tích tiếp về tài chính Việt Nam - nếu không muốn nổ ra một cuộc tranh luận vào thời điểm "nhạy cảm" này - nhưng chắc chúng ta cũng "lờ mờ" nhìn thấy một sợi dây liên hệ - giữa quá khứ - và hiện tại, sự nhắc nhở - từ một bài học - chưa phải đã quá lâu?...
Phân tích nền tài chính toàn cầu - không thể tóm trong một bài viết, và hơn hết với mỗi một nhà nghiên cứu,mỗi một người quan tâm, mỗi một vị trí, một quan điểm ta lại có những cách nhìn không giống nhau, sự đa rạng đó, càng tạo nên sự phấn khích giữa mỗi nhà bình luận, có lẽ cái chúng ta đang thiếu, là những nhà phân tích sắc sảo, những chuyên viên có trình độ, và một đội ngũ những cây bút "có trách nhiệm" với những bình luận, phân tích của mình!
Chúng ta thiếu, không chỉ là những người "cảnh báo" cho nhà đầu tư, mà chúng ta còn thiếu cả những người cảnh báo cho cả chính phủ, cảnh báo cho cả một nền kinh tế!
Xin lỗi, nếu tôi gọi rất nhiều những con số tăng trưởng là "phù phiếm" - chúng ta cần nâng cao mức sống - chứ không phải tăng trưởng - 2 cái này tưởng chừng giống nhau, nhưng lại khác nhau vô cùng!
Và kéo theo nó, là những chính sách, và những hệ quả tất yếu, chúng ta đang đứng trước một sự chuyển biến lịch sử, hãy đặt tất cả nên bàn cân, hãy phân tích, cân nhắc bằng tất cả sự cẩn trọng có thể, hãy sót thương khi một người khốn khổ - vật lộn với bệnh tật mà không chịu để cho gia đình đưa đến viện - để mà cân nhắc giá thuốc, viện phí & bảo hiểm!
Hãy nhìn vào ánh mắt người nông dân khi nhìn vào mảnh ruộng cằn cỗi - hãy nhìn vào mắt họ khi họ phải bán đi những hạt gạo cuối cùng - gửi cho con đi học đại học!
Hãy sót xa cho những gánh hàng rong, những chiếc xích lô máy, xe công nông dang âm thầm - bền bỉ nuôi sống thế hệ kế tiếp của một lớp người - đã chịu "đủ" đắng cay, đau đớn!
Hãy nghĩ suy về số phận những cánh đồng nếu giá than, giá phân bón, giá xăng dầu phi mã. Hãy đớn đau khi nhìn cái khoảng cách giầu nghèo mà người ta đáng "xé toạc" bởi những chiếc xe tiền tỉ chạy đầy đường, những sân gold bát ngát, những khách sạn xa hoa, những công viên lộng lẫy?
Chính phủ - có thể sẽ điều tiết nguồn chi phí dư ra ấy để phát triển kinh tế, nhưng liệu đã có những phân tích, những dự báo như thế nào về sự xáo trộn trong xã hội "gián tiếp - hay trực tiếp" từ chính sách kinh tế, hay đúng với chủ đề chúng ta đang bàn "chính sách tài chính"?
Liệu đã ai đo lường được tác động xã hội tại ngay cả những nơi được hưởng lợi nhiều nhất về sự tăng trưởng - chính các thành phố lớn?
Liệu sự phát triển ấy - sự hy sinh thầm lặng của đại bộ phận người nghèo ấy - có mang lại một thế Hệ kế cận tài giỏi?
Một nền giáo dục ưu tú?
Một nền văn hóa "văn minh"?
Một sự phát triển bền vững?
Chúng ta đã chuẩn bị cho tương lai như thế nào?
Tôi không quá ảo tưởng - càng không quá bi quan - nhưng tôi thực sự lo lắng!

“Để thêm yêu Tổ quốc”!

“Để thêm yêu Tổ quốc”!


Không phát ra lời “Đoàn quân VN đi, chung lòng cứu quốc...”. Nhưng cần gì, lời bắt đầu từ những trái tim và bộc ra nơi những đôi mắt và những đôi tay.
Từ bốn năm nay, những học sinh câm điếc vẫn chào cờ và “hát” quốc ca vào mỗi sáng thứ hai bằng cách rất riêng của mình như vậy...
Xem video clip
Nghi thức của trái tim
6g30 sáng thứ hai, hơn 100 học sinh đã có mặt ở sân trường thuộc Trung tâm Nuôi dạy trẻ khuyết tật tỉnh Đồng Nai, ngoại ô TP Biên Hòa. Tuổi học trò nào cũng nghịch ngợm, ồn ào. Nhưng không, ở đây không gian lại rất yên ắng. Có chăng âm thanh chỉ thỉnh thoảng phát ra từ thanh quản các bạn thành tiếng ú ớ như viên sỏi thả mình vào hồ nước lặng.
Hôm nay, các bạn học sinh đến trường sớm hơn. Vẫn trong bộ đồng phục trắng - xanh hằng ngày nhưng có vẻ trang trọng hơn. Trong góc sân, một số học sinh nam chỉnh lại những chiếc áo đóng thùng gọn gàng. Vài bạn khác lao xao nhờ các học sinh nữ chỉnh hộ mình chiếc khăn quàng đỏ thắm. Các bạn gọn gàng, tươm tất theo cách của những học sinh nghèo vùng quê. Nhìn xuống chân các bạn, tìm đỏ mắt cũng không ra đôi giày, chỉ thấy những đôi chân đen xỏ trong đôi dép nhựa cũ đầy bụi.
6g55, cờ Tổ quốc và cờ Đoàn trang nghiêm được đặt giữa sân. Bên trên là đội hát lễ và đội trống. Phía dưới có vài học sinh khiếm thị cùng giáo viên và hơn 100 học sinh khiếm thính (câm điếc). Học sinh bé nhất chỉ đứng tới thắt lưng học sinh lớn nhất. Tất cả đều đứng thẳng hàng, nghiêm, mắt rực sáng hướng về cờ Tổ quốc. Và bất ngờ thay, sau hiệu lệnh quốc ca thì hàng trăm cánh tay vươn lên uyển chuyển theo điệu nhạc hào hùng “Đoàn quân VN đi, chung lòng cứu quốc...”.
Những đôi tay vẫn nhịp nhàng cùng nhạc. Ai bảo người câm không biết hát? Người bình thường hát bằng tiếng, bằng miệng, còn người câm “hát” bằng tay. Tất cả thể hiện bài quốc ca trong quốc lễ trang nghiêm của người VN. Chẳng những nghe bằng tai, lúc này quốc ca phải được “nghe” bằng chính sự lắng đọng của trái tim và đôi mắt.
Ngôn ngữ của các bạn ngoài những ký hiệu có tính qui ước là những hình ảnh rất gần gũi với cuộc sống đời thường. Khi tay trái duỗi thẳng xuống, bàn tay phải chụm lại chỉ từ mặt bàn tay trái lên vai trái có nghĩa là “đoàn quân”. Khi giơ hai ngón tay vẽ hình chữ S, ai cũng hiểu các bạn đang nói về đất nước VN. Hai bàn tay ngửa đưa lên ngang ngực là “tiến lên”...
Các bạn thể hiện tình cảm qua nét mặt, ánh mắt. Ai cũng cảm nhận được điều đó khi các bạn "hát" về "nước non VN ta" bằng ánh mắt hướng về quốc kỳ, tay "vẽ" vào không trung dáng hình chữ S, rồi đặt bàn tay dịu dàng lên ngực trái (ảnh trái). Cô giáo tổng phụ trách đội cùng các học sinh "hát" đoạn "... vì nhân dân chiến đấu không ngừng" - Ảnh: Yến Trinh
“Để thêm yêu Tổ quốc”
Không ít lần nghi thức hát quốc ca của các bạn gặp “sự cố”. Đó là khi máy cassette trục trặc, nhạc dừng đột ngột. Do không nghe được nên các bạn vẫn “hát”, say sưa. Nhưng có bạn phát hiện và bật khóc, có lẽ bởi bạn chợt nhớ ra dù cố gắng nhưng cái khoảng cách với thế giới âm thanh vẫn còn đó, rất xa...
Giám đốc trung tâm Lê Thị Hiếu là người luôn trăn trở với khoảng cách đó. Trước kia, mỗi lần trường có nghi thức chào cờ, nhìn hầu hết học sinh câm điếc của mình đứng yên lặng, cô thương lắm. Sau đó năm 1999, trong một lần đi công tác ở Philippines, nhìn cảnh các bạn câm điếc của nước bạn hát quốc ca, ý nghĩ sẽ soạn bài quốc ca VN cho trẻ câm điếc càng thôi thúc.
“Ở VN còn bao nhiêu trẻ câm điếc chưa có một buổi chào cờ trọn vẹn? Các bạn phải được hát đầy tự hào bài hát của đất nước, dù đó chỉ bằng ngôn ngữ của riêng mình”. Nghĩ vậy, về VN cô cùng một giáo viên của trường soạn ngay bài quốc ca theo ngôn ngữ cử chỉ.
Bài hát phải được thể hiện tình cảm hơn cách phiên dịch lời nói thông thường. Khi “hát” quốc ca, các bạn phải thể hiện những động tác vừa trang nghiêm, hùng tráng. Lúc đó chưa có từ điển thống nhất cho ngôn ngữ cử chỉ nên các cô phải vừa soạn vừa đi sưu tầm ở các trường bạn. Những động tác sưu tầm cũng chưa đẹp, các cô tự sáng tác. Thời gian đầu, nhiều đồng nghiệp vừa bất ngờ vừa hoài nghi: “Cô Hiếu dám làm quốc ca?!”. Nhưng sau nhiều tháng mày mò, quốc ca đã được “dịch” và sáng tạo hoàn chỉnh.
Thổi sức sống của bài hát vào lòng học sinh còn là công việc nhọc nhằn, nhất là ngôi trường của những học sinh đặc biệt với nhiều lứa tuổi khác nhau. Để học quốc ca, đầu tiên giáo viên giải thích bằng tay cho học sinh lớp 1, lớp 2 thế nào là “Tổ quốc”, “quê hương”.
Các cô dạy học sinh biết tôn trọng và hát bài quốc ca như thế nào. Hết giờ học nghề, kết cườm, làm hoa giả, các bạn học sinh lớp lớn cũng say sưa luyện từng điệu xòe tay. Mỗi ngày một, hai câu lặp đi lặp lại. Sau hai tháng, các bạn đã có thể tự tin “hát” bằng tay bài quốc ca dưới cờ.
Nhớ lại ngày đầu xem học sinh của mình “hát” quốc ca, cô giáo Nguyễn Thị Ngọc Trinh vẫn không giấu được xúc động: “Thiêng liêng lắm. Dưới sân cờ, các em không còn bị tách ra trong thế giới tật nguyền. Lần đầu các em còn “hát” sai, nhưng không sao cả, lại lần hai, lần ba...”.
Dù thế nào, cái chính vẫn là dần cho các bạn hiểu tình cảm lớn lao hơn đó là đất nước. Và có lẽ niềm vui nhất là bây giờ hầu hết học sinh của trường đều biết hát quốc ca. Và trong lễ chào cờ mỗi sáng thứ hai, khi cờ Tổ quốc được giương lên cũng là lúc hàng trăm trái tim và đôi tay của các bạn cũng “hát”...
Sau lễ chào cờ, Minh Chương, một cậu bé 14 tuổi, học lớp 5, đã gặp tôi và nhờ cô giáo phiên dịch một câu: “Nhờ chị nói với mọi người dù câm điếc nhưng chúng em cũng có thể hát bài hát chung của đất nước mình...”. Vì sao em thích hát quốc ca? Đáp lời tôi, em đặt bàn tay lên ngực trái, rồi đưa tay vẽ vào không gian một hình chữ S. Nghĩa là, cô giáo dịch, em nói: “Để thêm yêu Tổ quốc”!

Chính sách tiền tệ - chiến tranh - định giá & bất bình đẳng trong thu nhập!

Chính sách tiền tệ - chiến tranh - định giá & bất bình đẳng trong thu nhập!
Đang chán - không biết làm gì - lại bị mấy "thằng cha" tự gọi mình là "chuyên gia" phát biểu linh tinh trên tivi "chọc giận"!!...
Có nói dối, thì cũng phải biết dừng ở giới hạn - vì có "ối thằng" thực sự hiểu những gì "nó" đang nghĩ chứ!! Có phỏng vấn - thì mời mấy bác "làm chính trị" ấy - dù các bác ấy - có "không nói hết sự thật" - thì cũng cóc dám nói dối một cách trắng trợn & hồn nhiên như thằng điên như thế!! Lại được mấy chú "biên tập" viên - dịch tin tức "bố láo" nữa chứ - chán thay chữ với chả nghĩa...
Tình cảnh này - thật là loạn!! loạn!!
Mà kể không loạn mới lạ - với cái mớ kiến thức còi cọc + suy diễn của em thì có lẽ bác thủ tướng nên "điều chuyển công tác" của "nhiều nhiều" các bác cố vấn với lại mấy cái bác trực tiếp điều hành chính sách tài chính...
Các bác cần tiền để phát triển - hoàn toàn đúng, nhưng cùng dân "tài chính" cả - các bác thừa hiểu đâu là giới hạn, các bác còn "kinh qua" những thời kì khó khăn nhất của nền tài chính nước nhà - thì quá hiểu về cái tác động khủng khiếp của việc "vung tay quá trán" khi điều tiết lượng tiền... cái thứ "giấy nợ" của chính phủ ấy - đang đe dọa đến "niêu cơm" của vô khối người đấy các bác ạ!!
Các bác cứ "xả nhiệt tình" - rồi sau đấy - theo đuôi thu lại - mà thu thế nào chứ? trái phiếu? không đủ - xài tín phiếu? nếu không đủ nốt - chả biết các bác còn xài được cái gì....
Mà kể cũng lạ - chẳng lẽ các bác vẫn không biết cái thằng ngân hàng của VN vốn hoạt động thế nào?... vốn thì mỏng, cạnh tranh thì ác, đầu tư thì khó khăn, dân lại nghèo, các dịch vụ tài chính yếu kém, dự trữ bắt buộc lớn, lãi suất bị các chính sách hành chính chi phối, nợ xấu 'nhan nhản' Các doanh nghiệp của mình thì "lèo tèo" vốn ít, lại "thiếu tin tưởng" do trình độ, do lịch sử......các bác bảo nó kiếm đâu ra tiền để duy trì bộ máy?? mà cái thằng ngân hàng thương mại, không có lãi là nó chết, mà nó thì làm sao "tự tay bóp cổ" được?
Nó cho vay mạo hiểm các bác ạ!! Nó càng gặp khó khăn, nó càng cho vay "liều lĩnh" - chỉ bởi như thế lãi suất sẽ cao - nó mới tồn tại!! Một trong số đó, phải kể đến bất động sản!
Thị trường chứng khoán bùng nổ - các bác làm ngân hàng "sáng mắt" - hò dô ta - các bác ấy dồn tiền cho các quỹ đầu tư, cho các khoản đầu tư chiến lược, rồi các bác ấy - chuồn chuôn - khi kiếm đủ - ít nhiều thành công "hơn cả mong đợi", rồi thấy "máu tham" của "dân chơi" còn chưa "nguôi ngoai", tội gì không kiếm chác, chấm mút cho "chúng nó" vay, "ngồi mát - ăn bát vàng": lãi + hoa hồng giao dịch! Chắc chả ai sướng bằng mấy bác!!
Cuối năm, các bác thưởng "hoành tráng" quá, em trông mà - phát sợ!!
Thoái trào, các bác ấy lại dồn tiền cho mấy bác đầu tư cho địa ốc - chắc ăn quá - là em chắc em cũng chả chịu được!!! Nhưng khổ nỗi - các bác toàn "theo chân" thị trường!
Cái nguồn cung VND "to như thế" - mà các bác cũng "nuốt sạch" thì em cũng "bó tay"!.. chỉ riêng bàn cái tỷ giá của thằng VND cũng mất "cả ngày" - các bác còn lạ gì những biểu hiện, những hành động "đầy ra đấy"!! Em "chột dạ" mấy phát từ đầu năm đến giờ - chả biết nghĩ có đúng không - nếu đúng - em đề nghị mấy bác điều hành chính sách tiền tệ - đứng ra nhận trách nhiệm - xin lỗi quốc dân đi - cho nó đỡ xấu hổ!! Cạn VND - các bác có nhìn một thằng ngân hàng "to vật" ở Anh - vừa sụp vì "bà con - cô bác" đến rút tiền không? mà dân ta được cái "hiền" với lại "có lòng tin cao độ" cái một cái thực thể tượng trưng cho giầu có "ngân hàng".. mà chả biết "dân thường" có bao nhiều tiền nữa, "hơi sợ" khi không biết dân mình tiết kiệm được bao nhiêu - nêu có tí "trục chặc" nào xảy ra? ớn quá!
Mà tệ hại là - chả biết bác nào cố vấn cho cái quả thu mua $, các bác sợ cũng phải, nhưng mà chọn $ và tiến hành "lộ liễu" thế - thì cũng thật là "khó hiểu" - chả biết cấp bách đến mức nào?... Thu bằng ấy $ trong khi tiền đồng .... em vẫn phải đặt dấu ??? to vật, mà để lý giải hành động ấy - em chỉ nghĩ được mỗi một khả năng...(chả lẽ lại có thể xảy ra?)..
Cái xu hướng đồng $ thì, xin thưa em biết cách đây chí ít cũng phải "2 năm", mặc dù lúc đó em "chưa tin lắm" - vì "ổng" nhận định là phải tới khoảng 2009 mới có những biểu hiện rõ rệt... nó đến sớm là do tình hình không lường trước được...
Lại còn thằng vàng nữa... quả thật - lúc vàng nó nên giá - em rủn hết cả tay chân - không phải vì tham, mà vì, dù ngưỡng mộ, nhưng mà đàn em không ngờ có những "bậc tiền bối" - cao thủ đến thế, tưởng ổng nói chơi, võ đoán không ngờ "sặc".... từ năm 2003 - thần tượng của em - đã bắt đầu đổ tiền vào các công ty "kim loại", lúc đầu ối kẻ bảo "ổng" chạm mạch vì cổ phiếu "công nghệ" đang phất... rồi mãi sau, người ta cũng "giật mình" khi bác "bup phê" + bác "bill" nhà mình cũng "dành trọn niềm tin" cho loại cổ phiếu này.. thời ấy - em làm gì có tiền, mà có tiền, làm sao em dám "theo chân các bác"... giờ còn chưa dám nữa là.!!
Rồi "đùng một phát" giá vàng nó tăng "ngất", rồi đến bạch kim, thằng "vàng đen" thì em "cóc khoái" nó tăng thế - em cũng "chả thích lắm", lý do thì "vô cùng nhiều"... cổ phiếu kim loại lên tận trời, lúc "lão" khoe - thì có vài cái mỏ vàng + đang nhăm nhé cái mỏ dầu... đấy là vào năm 2004, từ ấy đến giờ - chả biết "găm" được bao nhiêu thứ nữa... tại hạ "ngưỡng mộ" - "ngưỡng mộ". Ngưỡng mộ không chỉ bởi sự tài giỏi - mà còn bởi sự "hào phóng" - chia sẻ những lý luận, những phân tích và đề ra những lý thuyết "đơn giản" vô cùng!!
MỘT ÔNG THẦY VĨ ĐẠI!
Và lao theo cái sự "sung sướng' ấy - em vừa tìm hiểu về lịch sử của cái thứ kim loại "óng ánh" ấy! Tuyệt vời là em còn tìm thấy những thứ - còn hơn cả mong đợi!!
Cái quan hệ - mà bằng tất cả vốn kiến thức "chắp vá", tất cả suy luận, tất cả những học thuyết mà em đã "kinh qua", em "nhìn thấy" một mối quan hệ - mà chưa ai "chỉ" cho em cả!!!
Thế rồi - nó làm em thay đổi cách nhìn về chiến tranh, về tài chính, về tiền bạc, về chênh lệch giầu nghèo, về chính sách tiền tệ!!
Và em "sợ" rằng - đã hiểu ra - cái gì làm nên sức mạnh của một quốc gia, cái gì đảo lộn được vị thế của một quốc gia, cái gì làm nên sự hưng thịnh, sự suy vong - cái gì đã từng diễn ra tại Đức - tại Anh - và bây giờ là tại Mỹ... Cái xu hướng mà em "vắt óc" tìm kiếm - chợt sáng bừng - và từ giờ - hàng đêm - có lẽ em sẽ dành - để tìm hiểu - để thai nghén ra - một cái xu hướng "có thể xài được"@@
Chưa bao giờ - em có thể tưởng tượng, một chính sách lại có tác động "khủng khiếp" thế với một đất nước? nó vượt lên cả ảnh hưởng của địa chính trị, của ý thức hệ, của văn hóa, nó làm người ta phải trả giá đắt vô cùng nếu không tỉnh táo, nó ép người ta vào thế cùng, nhưng lại cho người ta mục đích rõ ràng để hành động...
Ai có thể bảo họ thua - hay thắng?
Ai có thể bảo họ giầu hay nghèo?
Cái quái quỷ gì đang chi phối mặt bằng giá cả? Quy luật cung cầu đơn thuẩn? - ngây thơ quá!!!
Em đã từng "nghệt mặt" - suy ngẫm về tăng trưởng nóng - tăng trưởng bong bóng - tăng trưởng bền vững?
Từng "bi quan" - khi ngẫm về "phương cách" đuổi kịp các nước... rồi chợt nhận ra - cái tăng trưởng ấy - thật vô vị!!... đâu cần phải tăng trưởng nhanh mới có thể đuổi kịp mức thu nhập?... Ta tìm ra bản chất - của tỷ giá - và hôm nay còn tìm được "cả một lịch sử" - nó càng củng cố - cho những điều ta đang "suy tính"!!!
Thật sung sướng, khi ta dồn tâm sức để tìm hiểu, để rồi thấu hiểu, .. ta đang khám phá một bức tranh, lộng lẫy, khắc nghiệt & dữ dội - thật sung sướng !!

Do dự!

Do dự!
Chắc đã hơn một lần ta vội vã quyết định - để rồi ân hận!
Cũng không chỉ một lần - ta hối tiếc - nhưng vì kiêu ngạo - ta đã không bao giờ quay lại!!
Trong số ấy - có những quyết định, vẫn khiến ta chưa bao giờ ngừng phân vân - nuối tiếc - &cũng chính nó, thỉnh thoảng "gặm nhấm" những nỗi đau "còn dai dẳng" trong ta...
Cái thứ tình cảm chết người + cái thứ niềm tin mù quáng + những ngọn lửa vẫn âm ỉ cháy - rồi chợt bùng lên - vào những lúc ta không ngờ nhất!!...Nhưng hơn hết - Nó làm ta đau!!
Có một thứ khiến ta sợ hãi, nhưng càng cố gạt bỏ nó, thì nó lại càng làm cho ta thêm lo lắng!
Vì sợ hãi, một nỗi sợ hãi rằng ai đó sẽ làm mình thất vọng - đủ để ta từ bỏ! Từ bỏ cả những thứ tình cảm mà ta thực sự chân trọng, ta thực sự mong muốn.. Từ bỏ cả những đứa con gái mà ta yêu quý!!.............
Ta bốc đồng - nhưng vào những lúc ra những quyết định ấy - sao ta lại quyết đoán, sao ta lại lạnh lùng - đến vậy!! Để rồi - chúng như những hòn than - chưa tàn hết - chỉ trực bùng nên - đốt cháy trái tim ta!!
Ánh mắt ấy, tính cách ấy, ta ghét cay ghét đắng, nhưng cũng chính nó - làm cho ta hạnh phúc & làm cho ta đau đớn!!
Ngẩng mặt lên trời - ta tự hỏi - tại sao - ta luôn gặp những người như vậy - ta luôn thích những kẻ như thế?
Rút cục, thứ tình cảm kia là gì - cái gì - đã làm cho tình yêu trong ta bùng cháy - và tàn lụi?
Mỗi lần - khi ta gặp lại những người - mà ta đã dành trọn cho họ cả trái tim - rồi sau đó - chán ghét - ghen tuông - tức giận - sợ hãi - ta đã không mảy may do dự - đòi lại trái tim ấy! Ta thà từ bỏ - còn hơn sống trong sự ghen tuông - và lo lắng....... Và hôm nay - ta gọi đó là sự hèn nhát - hèn nhát trong tình yêu!!
Hèn nhát bởi ta đã "không dám" yêu hết lòng, "không dám" tin tưởng, "không dám" cao thượng,.... bởi ta "quá" đa nghi, bởi ta "quá" ích kỷ!!! Ta yêu chính bản thân ta - hơn là dành cho người ấy! Ta sợ người ấy làm ta đau - hơn là ta sợ - ta làm đau người ấy! Và sự thật là - ta đã luôn làm tổn thương những người mà ta yêu quý!!.
Cái thứ "thành kiến" sẵn có trong con người ta - sẽ thật dễ dàng - và nhẫn tâm - để ta "chụp mũ" cho một ai đó, thậm trí ta rất yêu quý - là "dễ dãi", là "buông thả"(có lẽ hơi nặng lề) - nhưng đó quả thực là những thứ - đã từng thôi thúc ta hành động!... Nhưng đáng sợ hơn, ta lại không bao giờ nói cho họ những điều ta suy nghĩ, ta không cho họ nhiều cơ hội, để thanh minh, để sửa chữa, bởi ta đã quá "yêu" sự "trừng phạt" - ta đã quá quen cái gọi là "kỷ luật" - đến nỗi, để chính nó, điều khiển cuộc sống của ta!!..
Nhưng ta biết, hôm nay - ta phải thay đổi! Và lúc ta viết ra - là lúc ta tự huấn - là lúc ta thực sự nhìn thẳng vào mình - nhìn vào những góc tối nhất - những thứ, vẫn âm thầm ám ảnh ta, sự hối hận âm thầm, sự thủ thỉ của lương tâm, hay là sự trừng phạt, sự trách móc của "trái tim"!!
Ta cũng biết - còn một thứ - tác động không nhỏ đến những "quyết định sai trái" - của ta!! - thứ đã xui khiến ta tiếp tục, thay vì từ bỏ! Thứ đã cho ta lý do - để ta bám rễ vào những quyết định ngu xuẩn - bông bột - tàn nhẫn!! Và cứ thế - hết lần này - đến lần khác - mi không chỉ làm đau - những người ta yêu quý - mà ngươi còn trừng phạt cả ta! Ta đang gọi tên mi - sự kiêu ngạo!!!!!!
Ta đã không hiểu ra điều đó - cho đến lúc ta nghe The misery. Ta như lặng đi, ta như nhẹ nhõm, giải thoát, .... vì cuối cùng - đã có ai đó - gọi tên nó ra cho ta thấy!!!
Một lần nữa - ta tự nhủ - Tình yêu - không có chỗ cho sự kiêu ngạo!!!!
Và đó là lý do tại sao, hôm nay, ta ngồi đây, viết những dòng này.... Một cuộc gặp gỡ, một cái nhìn - níu kéo - mà chắc một thằng ngốc - nhìn 2 đứa ta cũng có thể hiểu!! Thế nhưng - bản thân ta - lại cố tình không hiểu... và ta hỏi tại sao??
Rồi cũng chính ta - gào lên rằng - đó là sự kiêu ngạo - cố hữu - mạnh mẽ - khắc nghiệt - nó làm ta chùn bước, nó làm trái tim ta đóng băng, nó làm ngọn lửa trong lòng ta tàn lụi, ... để rồi - giờ đây - nó lại thiêu đốt ta bằng cái cảm giác ray rứt, nghi hoặc chính những quyết định của mình!!!